Bệnh cúm gia cầm và biện pháp phòng trị

 Bệnh cúm gia cầm là bệnh truyền nhiễm cấp tính rất nguy hiểm đối với gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng) và các loài chim khác. Bệnh có thể lây trực tiếp sang người và gây tử vong. Bệnh do vi rút cúm A có độc lực mạnh gây ra, với đặc điểm lây lan rất nhanh, tỷ lệ chết rất cao, có thể đến 100%, gây thiệt hại kinh tế rất lớn.

 1. Điều kiện lây lan bệnh

Động vật cảm nhiễm

Các loài gà, gà tây, vịt, ngan, ngỗng, đà điểu, chim cút, các loài chim cảnh, các loài chim hoang dã như vịt trời, diệc, ngỗng trời… đều cảm nhiễm vi rút cúm A và bị bệnh.

Ngoài ra, một số trường hợp đặc biệt, các động vật có vú như hổ, mèo… cũng có thể bị bệnh. Đặc biệt, người ta dự đoán rằng: vi rút cúm gia cầm có thể xâm nhập vào lợn và đột biến gen, tạo ra các chủng vi rút cúm có độc lực cao, có thể truyền từ lợn sang người, gây thành đại dịch cúm ở người.

Đường lây truyền

- Trực tiếp: giữa con mắc bệnh và con khoẻ.

- Gián tiếp: qua không khí, thức ăn, nước uống, các dụng cụ chăn nuôi…nhiễm mầm bệnh.

Vi rút cúm gia cầm dễ dàng phát tán ra môi trường qua chất thải của gia cầm bệnh; truyền từ nơi này đến nơi khác do vận chuyển gia cầm bệnh hoặc mang mầm bệnh, do con người, phương tiện vận chuyển...

Mùa phát bệnh

Bệnh xảy ra quanh năm nhưng vào thời gian chuyển từ thời tiết nóng ẩm sang thời tiết lạnh, bệnh xảy ra nhiều hơn. Ở Việt Nam, dịch cúm gia cầm cũng thường xảy ra vào thời gian từ cuối mùa thu sang mùa đông.

Sức đề kháng của vi rút cúm

Vi rút cúm có trong hầu hết các cơ quan nội tạng của gia cầm bị bệnh, kể cả máu, tuỷ xương, nước dãi, phân, lông …

Điều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng rõ rệt đến sức đề kháng của vi rút cúm H5N1. Vi rút thường sống lâu hơn trong tế bào sống hoặc môi trường hữu cơ ở điều kiện lạnh.

Những chất sát trùng thông thường tiêu diệt được vi rút cúm gia cầm như: Iodine 1-2%, xút 2%, crezin 5%, Chloramin B 3%, cồn 70 – 900, vôi bột hoặc nước vôi 10%, nước xà phòng đặc… Người ta có thể dùng các chất này để tẩy uế chuồng trại, dụng cụ và các thiết bị chăn nuôi khi cơ sở chăn nuôi bị dịch cúm gia cầm đe doạ.

2. Triệu chứng và bệnh tích của bệnh

* Triệu chứng ở gà

Thời gian ủ bệnh từ vài giờ đến 3 ngày kể từ khi nhiễm vi rút đến khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên.

- Gà sốt cao, ho, thở nhanh, khó thở, chảy nước mắt, chảy nước dãi, phù đầu và mặt, xuất huyết ở vùng da không có lông, đặc biệt ở chân; da tím bầm, lông xù, đứng tụm một chỗ, khát nước, bỏ ăn và chết rất nhanh.

- Có biểu hiện thần kinh như: đi lại không bình thường, loạng choạng, run rẩy, ngoẹo đầu, đi quay vòng.

- Gà bị tiêu chảy mạnh, phân loãng màu trắng hoặc trắng xanh.

- Gà đang đẻ năng suất trứng giảm rõ rệt, thậm chí gà đẻ trứng không có vỏ.

- Trong một số trường hợp, bệnh bùng phát nhanh, trước khi chết con vật không có biểu hiện lâm sàng.

* Triệu chứng ở vịt, ngỗng

- Vịt và ngỗng có triệu chứng ủ rũ, ăn ít, ỉa chảy, các xoang thường có hiện tượng sưng, tích nước.

- Nhiều trường hợp vịt nhiễm vi rút cúm gia cầm và bài thải vi rút ra ngoài khi không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng và bệnh tích.

* Bệnh tích

- Bệnh tích bên ngoài:

+ Mào và yếm (tích) sưng to, phù quanh mắt.

+ Chỗ da không có lông bị tím bầm.

+ Chân bị xuất huyết.

+ Vùng đầu xuất huyết và thâm tím.

- Bệnh tích bên trong:

+ Niêm mạc phế quản phù nề có chứa chất nhầy.

+ Xoang bụng tích nước hoặc có viêm dính.

+ Xuất huyết lốm đốm ở bề mặt niêm mạc.

+ Xuất huyết toàn bộ đường tiêu hoá.


Khí quản xuất huyết, nhiều dịch nhày Bệnh tích chân gà bị xuất huyết


3. Chẩn đoán bệnh

- Dựa vào biểu hiện lâm sàng: bệnh xảy ra đột ngột, lây lan rất nhanh, gia cầm sốt, thở khó, ho, chảy nước mắt, nước dãi, xuất huyết ở vùng da không có lông… tỷ lệ chết cao.

- Chẩn đoán phòng thí nghiệm: phân lập virus gây bệnh, kiểm tra huyết thanh gia cầm mắc bệnh.

4. Biện pháp phòng bệnh

- Thực hiện biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm gồm:

+ Cách ly triệt để: Không nuôi nhiều loại gia cầm và nuôi cùng các vật nuôi khác trong một trại, mua gống từ nơi an toàn, khi nhập đàn mới phải nuôi cách ly với đàn cũ ít nhất 2 tuần để theo dõi dịch bệnh. Khu chăn nuôi nên cách biệt với bên ngoài (có tường bao, hố sát trùng…)

+ Kiểm soát chặt chẽ vận chuyển động vật, sự đi lại của con người, phương tiện vận chuyển, dụng cụ vào trại hoặc qua trại chăn nuôi.

+ Vệ sinh phòng bệnh: Thực hiện vệ sinh, tiêu độc khử trùng trước khi vào khu vực chăn nuôi. Dụng cụ, phương tiện vận chuyển, máng ăn, máng uống phải được vệ sinh thường xuyên. Thức ăn, nước uống đảm bảo sạch, không nhiễm mầm bệnh. Sau mỗi lần xuất chuồng phải thu gom chất độn chuồng để ủ. Quét dọn và khử trùng chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi bằng một trong các loại hoá chất: Chloramin, Benkocid, iodine…

- Phòng bệnh bằng vắc xin: hiện nay virus cúm gia cầm đã thay đổi ở nhiều địa phương (miền Bắc và miền Trung) nên để có hiệu quả khi phòng bệnh bằng vắc xin, phải theo hướng dẫn của cơ quan thú y chuyên trách.

- Khi nghi gia cầm bị bệnh cúm, tuyệt đối không điều trị, vì:

+ Bệnh cúm gia cầm không có thuốc điều trị đặc hiệu.

+ Gây tốn kém thêm về kinh tế.

+ Tăng nguy cơ dịch lây lan và dễ lây truyền sang người.

Phải tiêu huỷ gia cầm trong vùng dịch: không bán chạy, không vứt xác gia cầm chết ra ao, hồ, kênh, rạch, ruộng, vườn.

Phương pháp tiêu huỷ:

+ Chôn gia cầm trong hố sâu 2,5 – 3 mét, phun thuốc sát trùng hoặc đổ vôi bột lên mặt và lấp đất dày 1 – 1,5 mét, nện chặt.

+ Đốt gia cầm: Đốt dưới hố bằng củi, than, xăng, dầu, sau đó lấp đất, nện chặt.

Thực hiện tẩy uế, sát trùng tiêu độc toàn bộ chuồng trại, phương tiện và dụng cụ chăn nuôi.

Để trống chuồng ít nhất 1 tháng trước khi nuôi trở lại.

Kim Nga

Theo khuyennongvn.gov.vn