SO KHOA HOC CONG NGHE - KIEN THUC NONG NGHIEP
Saturday, October 19, 2019
Kỹ thuật nuôi và vỗ béo trâu thịt   -   Kinh nghiệm thâm canh cây ăn quả có múi   -   Trừ cỏ ở má luống hành   -   Trừ bệnh sương mai hại cà chua sớm   -   Công ty TNHH Một thành viên giống cây trồng Hải Dương đã nghiên cứu ra hai giống lúa NB01 và lúa nếp DT22. Hai giống lúa này ngắn ngày, kháng bệnh tốt và mang lại năng suất cao.   -   3NTV-VTC16: Làm giàu từ nuôi thỏ ngoại   -   Xử lý phèn trong ao mùa mưa   -   Kinh nghiệm nâng cao năng suất và phẩm chất ớt vụ xuân hè   -   Kinh nghiệm nuôi gà thịt hiệu quả   -   Dịch hại cần chú ý vụ hè thu   -   Phòng trị bệnh đầu đen ở gà   -   Phòng bệnh tổng hợp cho cá   -   Một số kinh nghiệm nuôi vịt thả đồng   -   Kỹ thuật trồng, chăm sóc chuối lùn   -   Kỹ thuật trồng ớt ngọt theo hướng an toàn   -   Bệnh thán thư hại khoai sọ   -   Bón phân đón đòng cho lúa chiêm xuân   -   Kỹ Thuật Trồng Nấm Rơm   -   Sử dụng phân bón lá cho lúa   -   Phòng trừ chuột hại lúa xuân   -   Những vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đối với ao nuôi thủy sản   -   Nhện gié hại lúa   -   Nấm đối kháng hạn chế rau màu héo rũ   -   Bệnh héo tươi, héo xanh trên ớt   -   Bệnh loét hại cây có múi và biện pháp phòng trừ   -   Để vườn cam sành lâu cỗi   -   Kỹ thuật trồng cải bắp   -   Bón thúc cho lúa đẻ nhánh ở vụ xuân   -   Khắc phục lúa gieo thẳng chậm ra lá   -   Kinh nghiệm nuôi gà Đông Tảo   -   Nhân giống chuối tiêu hồng bằng công nghệ nuôi cấy mô   -   Chủ động chống rét cho cây trồng, vật nuôi   -   Cần chính sách mới cho thủy sản theo GAP   -   Lưu ý khi nuôi chim trĩ   -   Bệnh đạo ôn   -   Chống rét cho mạ và chăm sóc lúa   -   Cảnh giác thương lái Trung Quốc mua lá khoai lang   -   Trồng và chăm sóc vườn cây ăn quả bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm   -   Khẩn trương chống rét cho mạ và lúa xuân   -   Kỹ thuật nuôi chạch đồng   -   Kỹ thuật diệt chuột   -   Trồng rau trong hộp xốp   -   3 giống hoa đào   -   Quản lý sức khỏe tôm nuôi khi chuyển mùa   -   Chăm củ cải trắng vụ đông   -   Ương dưỡng tôm giống trước khi nuôi   -   Lưu ý khi lưu giữ cá giống qua đông   -   Cho hành lá thêm xanh   -   Nấm bệnh héo rũ hại hành   -   Bệnh héo rũ Panama hại chuối và biện pháp phòng trừ   -   Trồng khổ qua không khó   -   Để nuôi cá chép giống V1 đạt năng suất 2 tấn/ha   -   Tăng cường phòng chống dịch lở mồm long móng   -   Nuôi ong lấy mật - cải thiện kinh tế hộ gia đình   -   Bón phân hợp lý cho cây chè ở miền núi phía Bắc   -   Biện pháp hạn chế hao hụt lươn khi mới thả giống   -   Ủ chua cỏ xanh để nuôi trâu, bò   -   Sản xuất lươn giống   -   Để dưa leo không bị đắng   -   Nhận diện "công nghệ" SX thuốc BVTV giả   -   Nấm sò và kỹ thuật nuôi trồng   -   Chăm sóc rau màu khi gặp thời tiết bất lợi   -   Giảm thiểu tỷ lệ chết héo rũ cho hành vụ đông   -   Quy trình trồng khoai tây bằng phương pháp làm đất tối thiểu có phủ rơm rạ   -   Nấm bệnh hại bí xanh   -   Kinh nghiệm nâng cao năng suất, chất lượng củ đậu thu đông   -   Cách nhận biết bệnh thán thư hại rau màu   -   Chọn giống đu đủ cho nhiều quả   -   Thức ăn có sẵn cho cá nước ngọt   -   Hướng tới công nghệ chăn nuôi không phân   -   Hướng dẫn gieo trồng giống ngô Nếp lai F1 HN88   -   Cách phòng, chống dịch cúm gia cầm   -   Bí quyết nuôi cá trắm đen kiếm lời   -   Tự trồng rau gia vị tại nhà   -   Sản xuất giống cá trắm cỏ chính vụ   -   Một số điểm cần lưu ý trong chăn nuôi thỏ   -   Bệnh nấm phổi trên vịt   -   Một số lưu ý trước khi vào vụ nuôi tôm xuân hè 2013   -   Cách phòng trừ bệnh đạo ôn trên lúa xuân   -   Kỹ thuật trồng hành củ, hành hoa an toàn   -   Lưu ý khi sử dụng vôi và hóa chất cho ao nuôi   -   Đậu tương DT51 có thể trồng 3 vụ/năm   -   Sản xuất thành công khoai tây siêu nguyên chủng   -   Một số biện pháp chủ yếu chăm sóc và bảo vệ lúa chiêm xuân năm 2013   -   Lưu ý bón thúc đẻ nhánh lúa chiêm xuân   -   3 bước chống dịch lợn tai xanh   -   Sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi thỏ   -   Một số biện pháp hạn chế tôm chết trong quá trình thả nuôi   -   Bệnh dịch tả vịt   -   Nuôi cá chạch - Hướng mới nhiều triển vọng   -   Trồng dong riềng xen ngô lãi lớn   -   Chăm sóc lúa xuân đúng cách   -   Kỹ thuật trồng lại đào sau tết   -   Nhiều lưu ý về sản xuất vụ đông xuân   -   Lợn “tên lửa” dễ nuôi, dễ bán   -   Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính trên gia cầm   -   Nuôi bồ câu gà   -   Giống dưa leo Cúc 71   -   Hiện tượng heo cắn đuôi nhau   -   Bí quyết trồng cam đường Canh kiếm tiền Tết   -   Chế phẩm từ vi khuẩn giúp tăng năng suất cây lạc   -   Phòng trừ bọ nhảy ở rau cải   -   Quy trình sản xuất cây bí xanh theo tiêu chuẩn VietGAP   -   Kỹ thuật phòng và trị bệnh trong nuôi trồng thủy sản   -   Những điểm cần lưu ý khi nuôi cá rô đồng   -   Cách nhận biết hải sản bị ngâm ướp urê   -   Kỹ thuật trồng củ cải   -   Nhận biết bệnh cúm gia cầm   -   Làm chuồng úm chống rét cho lợn sữa   -   Cách làm đào nở hoa đúng tết   -   Trồng và chăm sóc rau màu khi rét đậm   -   Cách nhận biết bệnh vi-rút trên rau   -   Hướng dẫn biện pháp diệt chuột   -   Hạn chế mạ chết từng chòm   -   Một số lưu ý khi phân biệt 4 bệnh đỏ ở lợn   -   Những giải pháp đào ao thả cá đầu tư thấp   -   Một số lưu ý để nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi gà   -   Bảo quản và sử dụng vắc xin trong chăn nuôi   -   Khẩn trương cày ải phơi đất   -   Chủ động phòng chống rét cho trâu bò   -   Sử dụng thuốc BVTV theo khuyến cáo   -   Bí quyết phòng trừ phi hóa dịch hại trong vườn   -   Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cà chua   -   Bệnh cúm gia cầm và biện pháp phòng trị   -   Giống đậu tương cao sản DT51   -   Hiệu quả từ nuôi gà nòi chân vàng   -   Chăm sóc, quản lý tôm cá trong mùa rét   -   Phòng và điều trị bệnh nấm phấn đen ở chuối   -   Sản xuất gạo nhân tạo   -   Bệnh hại trên cây khoai tây, cà chua và biện pháp phòng trừ   -   Sâu bệnh hại trên cây dưa chuột và biện pháp phòng trừ   -   Mở rộng sản xuất trà xuân muộn   -   Nuôi trồng, khai thác thủy hải sản   -   Công nghệ sản xuất mạ khay   -   Cách ngăn ngừa dưa chuột đắng   -   Ngăn ngừa ô nhiễm nước và phòng bệnh cho cá   -   40% mẫu gà có dư lượng kháng sinh và chất cấm   -   Ngô không hạt - nguyên nhân và cách khắc phục   -   5 giống đậu tương năng suất cao   -   Bí đỏ dễ trồng, không kén đất   -   Xử lý hạt giống rau trước khi gieo   -   Nuôi trồng thủy sản theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia   -   Nên trồng ngô nếp lai F1 - HN88   -   Gà ri vàng rơm   -   Nhân giống nhanh cây đu đủ   -   Trồng lạc vụ đông bằng phương pháp phủ nylon   -   3 giống bí xanh cho vụ đông   -   Khắc phục hành thối nhũn   -   Bệnh chạy dây bí xanh   -   Nuôi cua lãi hơn trăm triệu   -   Những điểm cần lưu ý khi nuôi cá rô đồng   -   Kỹ thuật nuôi cá chình thương phẩm trong ao   -   Thụ tinh nhân tạo giống gà ri   -   Bí quyết để hoa hồng ra hoa nhiều vào ngày tết   -   Để giá trị khoai lang tăng cao   -   Đã có vacine khống chế virus cúm gia cầm mới   -   Một số lưu ý khi sử dụng vaxin phòng bệnh cho gia súc, gia cầm   -   Phòng và trị bệnh cho động vật thủy sản trong mùa mưa lũ   -   Trồng khoai lang Thu Đông hiệu quả   -   Trồng khoai tây bằng phương pháp làm đất tối thiểu   -   Kỹ thuật nuôi cua đồng   -   Dùng phương pháp cấy mô để nhân giống chuối già lùn   -   Nhân giống khoai tây bằng nuôi cấy mô và công nghệ trồng không cần đất   -   Hướng dẫn sử dụng vắcxin cúm gia cầm đúng cách   -   Điều khiển nhãn ra hoa rải vụ   -   Hỗ trợ đổi mới chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học   -   Trồng cam sành theo hướng sạch, an toàn   -   Cách xử lý bệnh chổi rồng trên nhãn   -   Để bí xanh trái vụ bền cây, sai quả   -   Kỹ thuật trồng cà chua   -   Nuôi ngan thịt chọn giống và chuẩn bị   -   Chi Lăng Nam: Biến tiềm năng thành hiện thực   -   Sẽ có Nghị định về tích tụ ruộng đất   -   Nghị quyết BCH Trung ương lần thứ 7 (khoá x) về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn   -   Cải tiến đàn Bò   -   Kỹ thuật chăm sóc một số hoa Lan   -   CHẠM KHẮC GỖ ĐÔNG GIAO
5:01

KIẾN THỨC NÔNG NGHIỆP

Tin tức hàng ngày

Trồng trọt

Chăn nuôi

Thủy sản

Chế biến, bảo quản NS

Làng nghề

Kỹ thuật mới

Mô hình sản xuất

Thị trường

Chính sách hỗ trợ

Khoa học thưởng thức

Hỏi đáp về KHCN

Video về Nông nghiệp

TÌM KIẾM THÔNG TIN
  

Số lần truy cập
16735244

Gốm sứ Cậy

( Thời gian đăng : 18:44:02 11/05/2009 )     

Làng nghề gốm - sứ Cậy thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương đã có từ lâu đời, sản phẩm của làng nghề được lưu thông nhiều nơi trên đất nước Việt Nam. Làng nghề đã được ghi trong sách Nghề cổ truyền Hải Hưng tập II, xuất bản năm 1987. Sau đây là một số thông tin về làng nghề.

Trước khi nói đến gốm sứ Cậy cần tìm hiểu những trung tâm sản xuất gốm sứ lớn từng tồn tại trong lịch sử trên đất Hải Hưng đến nay đã biết

Qua những đồ gốm thu được, những là những di vật có ghi rõ niên hiệu, địa chỉ, tên họ người sản xuất như sưu tập gốm của sinh đồ Đặng Mậu Nghiệp tự là Huyền Thông quê tại xã Hùng Thắng, huyện Thanh Lâm, vào giữa thời Mạc, bình gốm hoa lam lưu lại bảo tàng Ít tăm-bun (Thổ Nhĩ Kỳ) (A.1) có dòng chữ Thái hoà bát niên, Nam Sách chân tượng nhân Bùi Thị Hý bút (Năm Thái hoà thứ  tám (1450) tại châu Nam Sách. Thợ gốm Bùi Thị Hý vẽ (hoặc viết). Từ đó dẫn đến những phán đoàn khảo cổ học: Tại một địa điểm nào đó trên các triền sông thuộc Thanh Lâm từng có những lò gốm toả khói từ thời Lê sơ đến thời Mạc và đã nguội lạnh từ lâu. Nếu vậy thì bề mặt di tích sẽ khá ổn định, không bị lẫn lộn với gốm của thời sau. Trong dịp thực hiện chuyên đề Nghề cổ truyền của địa phương, cán bộ nghiên cứu đặc biệt quan tâm đến di tích liên quan đến các nghành nghề. Sự thiết tha đã mang lại điều may mắn, những tín hiệu đầu tiên và một lò gốm cổ đã xuất hiện tại Chu Đậu, một xã nằm trên giao điểm của đường thuỷ (hữu ngạn sông Thái Bình) và đường bộ (Nam Sách đi Văn Thai) thuộc tổng Thượng Triệt, huyện Thanh Lâm thời Lê, nay là một thôn thuộc xã Thái Tân, huyện Nam Sách. Nếu căn cứ vào tài liệu dân tộc học thì Chu Đậu là một làng dệt chiếu cổ truyền, chiếu Đậu được lịch sử ghi nhận từ thế kỷ 19 và thịnh hành đến nay, nhân dân địa phương không còn một ký ức nào về những lò gốm trong lịch sử tại quê hương mình, nhưng tài liệu khảo cổ học lại khác. Sau một thời gian điền dã, thám sát, khai quật lần thứ nhất (4-1986) đã xác định được phạm vi di tích sản xuất gốm sứ rộng ngót bốn vạn mét vuông, tập trung nhất tại khu vực giáp để sông Thái Bình, diện tích tới 3.000 mét vuông. Sau khi phân loại nghiên cứu 300kg hiện vật thu được gồm hàng nghìn cá thể khác nhau, kết quả cho biết:

Loại hình: Hiện vật nhiều và điển hình nhất là bát, gồm nhiều kiểu, loại, màu sắc và hoa văn khác nhau, đáng lưu ý là các loại bát chân cao, bát có hoa văn khắc chìm theo truyền thống Lý- Trần, đĩa loại lớn, đường kính miệng tới 35cm. Cùng với bát đĩa là các loại bình, lọ, âu, chén, chậu… đặc biệt là các loại sứ tròn có nắp.

Xương gốm: Phần lớn có màu xám nhạt, cứng rắn, có loại trắng đục, trắng trong đạt tiêu chuẩn của sứ (2).

Men: Gồm nhiều màu, sắc độ khác nhau: Xanh rêu, trắng ngà, xanh lục, xanh lam, vàng, nâu đậm, ghi đá, trong bóng hoặc rạn đục. Một số loại hiện vật được tráng hai màu men, không kể men màu dùng để vẽ hoa văn.

Hoa văn: Chủ đạo là sen dưới nhiều đoạn khác nhau thứ đến hoa cúc và hàng chục loại hoa văn khác. Hình động vật có chim, cá cánh điệu. Giữa đáy các hiện vật đều ghi một chữ, nhiều nhất là các chữ Phúc rồi đến các chữ Chính, Sĩ,, Hoa, Trung, Kim Ngọc, Tàm Quỳ, Trù…có lẽ đầy là các lò khác nhau

Phương pháp chế tạo: Phần lớn hiện vật được tạo dáng trên bàn xoay trước khi trang trí và tráng men. Bát đĩa có hoa văn khắc chìm phía ngoài hoặc trong đều phải có khuôn ngoài hoặc trong. Một số hiện vật có hoa văn khắc chìm cả trong và ngoài, như vậy chỉ có thể thực hiện bằng phương pháp đúc hoặc dùng một khuôn ngoài, tạo dáng trên bàn xoay rồi gia công hoa văn phía trong bằng cách in hoặc khắc trước khi tráng men. Nhiều loại bát đĩa có ve lòng để loại bỏ con kê, song di tích cũng chứng minh rằng có trường hợp ve lòng mà vẫn dùng con kê, ngược lại không ve lòng mà trồng trực tiếp bên nhau cùng chiều hoặc ngược chiều, hai miệng úp vào nhau, trường hợp này phải cạo men ở miệng và chân để chống dính. Bao nung đã được dùng bổ phiến để tạo ra những sản phẩm cao cấp

Công cụ sản xuất: Qúa trình khai quật cũng như thám sát đã tìm được nhiều loại con kê, phổ biến nhất là các loại hình vành khăn, vòng tròn 3 chân, hình đĩa 3 chân (mâm bồng), hình nón cụt… đường kính dao động từ 4-7cm, loại lớn hơn không nhiều. Bao nung làm bằng đất chịu nhiệt cao, dày 2-3cm, giống như cái vại, cao trung bình 25cm, đáy 20-25cm. Bên cạnh con kê, còn tìm được nhiều hiện vật bằng gốm giống như cái đinh lớn, dài 7-8cm, đường kính 1,5cm. Tại khu di tích đã phát hiện một số đáy lò với những lớp xỉ nóng chảy, chứng tỏ được sử dụng nhiều lần.

Niên đại: Cho đến chưa có một tài liệu nào nói về gốm Chu Đậu, truyền thuyết dân gian cũng không có. Xét trên bề mặt di tích thấy khá ổn định, không có biểu hiện gì về gốm sứ thời Nguyễn. Căn cứ vào sự diễn biến của tầng văn hoá, cùng với những hiện vật thu được kết hợp với những tài liệu điền dã, thám sát những di vật đã biết trong các kho bảo tàng, sơ bộ kêt luận rằng: Chu Đậu là một trung tâm sản xuất gốm sứ cao cấp, xuất hiện vào cuối thế kỷ 14, phát triển rực rỡ vào cuối thế kỷ 15-15, tàn lụi vào thế kỷ 18, khi phong trào khởi nghĩa nông dân nổ ra ác liệt và chà xát vùgn này. Chu Đậu sản xuất hầu hết các mặt hàng gốm sứ thông dụng của thời đại nhưng trình độ cao.

Từ kết quả khai quật đợt I ở Chu Đậu, có thể nghĩ rằng bình gốm hoa lam lưu tại bảo tàng Ít-tăm-bun, sưu tập gốm của Đặng Mậu Nghiệp đã được sản xuất của trung tâm này hoặc cách đây không xa lắm, bởi vì Hùng Thắng quê hương của nghệ nhân họ Đặng, cách Chu Đậu chưa đầy 2km. Hiểu biết về gốm sứ Chu Đậu mới là bước đầu còn phải tiếp tục khai quật nghiên cứu mới có kết luận thoả đáng. Tạm biệt Thanh Lâm trở về Đường An: Thăm làng gốm Cậy một làng gốm điển hình về kiến trúc làng xóm bên bờ sông Kẻ Sặt

Cậy là tên gọi dân gian của làng Kệ Gián thuộc Bình Dã, huyện Đường An thời Lê, ở về hữu ngạn sông Kẻ Sặt, sát bến đò Cậy, nối con đường quốc lộ 5 tại Lai Cách đến Phủ Vạc (phủ Bình Giang cũ). Phía đông sát với Kệ Gián là làng Hương Gián, cuối thế kỷ 19 còn gọi là Nam Gián thuộc tổng Triển Đổ, cùng huyện, cùng dựng lò sản xuất theo một truyền thống như nhau nên được gọi chung là làng Cậy, thực tế thì Kệ Gián sản xuất gốm nhiều hơn Hương Gián. cuối thế kỷ 19. Triển Đổ đổi thành Lý Đỏ, Bình Gĩa đổi thành Bằng Gĩa. Nay làng Cậy thuộc xã Long Xuyên, huyện Bình Giang. Năm 1900 dân số Kệ Gián 1.00 khẩu, Nam Gián 700 khẩu. Như vậy làng Cậy nói chung có khoảng 1.800 người. Đất canh tác có chừng 500 mẫu Bắc bộ. Năm 1983 làng Cậy có 675 hộ, ngót 3.300 khẩu, 390 mẫu ruộng. Bên cạnh nghề nông, làng Cây làm nhiều nghề phụ trong đó có nghề gốm, tuy đã có thời kỳ gián đoạn nhưng đên nay vẫn tồn tại và phát triển. Nhìn vào làng Cậy người ta dễ nhận ra một làng gốm cổ truyền. Làng ở sát bờ sông trên những lớp gốm sứ dầy đặc, nhà xây san sát, ken sát nhau, các gia đình hầu như không có vườn, tre không còn đất sống, chỉ lác đác cây bưởi, cây mít, cây chanh và vài ba cây cảnh quanh một sân nhỏ. Đường làng, ngõ xóm nhỏ hẹp, hai bên tường xây dài hun hút.

Làng Cậy có một ngôi đình lớn, thờ thành Hoàng là ngài Bảo phúc đai vương con ông Nguyễn Đức và bà Đào Thị sống vào thời Hùng Vương thứ 17 tại bản xã. Bảo Phúc có công giúp Vua Hùng chống quân Thục nhưng thần tích không nói gì về vai trò của Ngài với nghề gốm của làng. Trước Cách mạng có đền thờ pháp sư nghề gốm, đền bị tàn phá từ lâu, thánh sư tên họ là gì không ai nhớ đích xác. Có lẽ từ lâu lắm rồi làng Cậy tấp nập khách qua lại. Đường thuỷ, đường bộ từ đây đi các miền đồng bằng đều thuận tiện. Bến Cậy bao giờ cũng nhộn nhịp thuyền bè và cảnh quan thật thơ mộng. Suốt dọc bờ sông nhà ngói nối tiếp nhau như một phố cổ, tre xanh la đà mặt nước, lênh đênh giữa dòng vài thuyền nan bé nhỏ gối sóng, hoà nhịp bằng một bộ gõ đều đều. Chợ bến lao xao, chiều chiều thôn nữ quẩy thùng gánh nước, màu áo non mất hút trong những ngõ sâu. Điều kiện tự nhiên và xã hội tạo cho làng Cậy phát triển trên cả ba mặt: Nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp. Sản phẩm thủ công nghiệp chủ yếu phục vụ nông thôn, trong sinh hoạt của nhân dân mang tính chất thương nghiệp rõ rệt nhưng vẫn giữ chất mộc mạc, nền lã của làng quê, phải chăng do thường xuyên giao lưu với thị trường nông thôn nên họ còn giữ được một phần nếp sống sinh hoạt truyền thống. Trong một dải đất hẹp, dân cư quy tụ chật chội nhưng đời sống vẫn sung túc nhờ có nhiều ngành nghề. Chợ Cậy họp suốt ngày, tôm, cá, thịt, đậu bao giờ cũng có, chứng tỏ mức sinh hoạt ở đây khá cao. Nguồn thu nhập quan trọng của làng Cậy là nghề sản xuất đồ gốm dưới nhiều hình thức khác nhau, một nghề truyền thống có lịch sử phong phú.

Đi theo hữu ngạn sông Kẻ Sặt từ làng Thuần Lương, Sơn Lương, Kệ Gián, Hương Dâu, đến Bá Thuỷ rẽ về nam theo sông Đò Đáy, đến Hợp Lễ, qua những làng trên đều nhận thấy du tích của những làng gốm cổ. Căn cứ vào những di vật nhân dân đã tìm được qua việc đào ao, đào giếng, chứng tỏ lò gốm những nơi này đã có từ thời Lê. Vậy trong những làng gốm nói trên nơi nào có trước?Để trả lời câu hỏi này phải tiến hành một loạt cuộc khai quật nghiêm tú, nghiên cứu công phu, kết hợp với tài liệu điền dã và thư tịch. Bằng cách nhìn trực tiếp và qua điền dã khảo cổ học, người ta nhận thấy rằng Hợp Lễ là nơi có khối lượng phế tích lớn nhất trong số những di tích nói trên, mặc dù hàng nghìn thế kỷ này đã ngừng sản xuất.

Hợp Lễ nguyễn là Hương Lễ, tục gọi là làng Đáy, là một thôn nhỏ của xã Long Xuyên, ở hữu ngạn sông Đò Đáy (còn có tên là sông Định Đào), cách thị xã Hải Dương 10 km về phía tây nam. Cuối thế kỷ 19, Hương Lễ đổi thành Hợp Lễ là một xã thuộc tổng Lý Đỏ. Cư dân Hợp Lễ hiện nay đều là dân di cư từ nhiều nơi đến, sớm nhất cũng chỉ từ 4-5 đời. Dân số năm 1900 chưa đầy 100 người, đến nay cũng chưa tới 350 khẩu, sống tập trung trên một dải đất hẹp mà cao ven sông Đò Đáy. Tuy nhỏ nhưng Hợp Lễ cũng có đình, chùa và tục lễ đình đám như một làng cổ điển. Mặc dù cách làng Cậy chỉ 2km nhưng ở đây không có một gia đình, một người biết làm đồ gốm: những người cao tuổi nhất cũng không được ông cha truyền ngôn về sự hoạt động của lò gốm trên mảnh đất mình đang sống, chỉ có một truyền thuyết mơ hồ:

'Vào một thời đã xa lắm, không ai rõ triều đại nào, đất nước loạn lạc, giặc giã liên miên. Khi ấy cả làng Hương Lễ làm đồ gốm. Được tin giặc đến gần, nhân dân trui vào lò chú ẩn. Giặc tràn đến thiêu trụi, giết chết cả làng. Hôm ấy chỉ có một người đàn bà đi chợ xa, sống sót, bà ta không về quê ở lại làng Cậy, nhen nhóm dần nghề gốm ở đây, từ đó làng Cậy có nghề gốm và suy trì đến ngày nay. Còn Hương Lễ thì mất một nghề cổ truyền và toàn bộ dân cư..'

Truyền thuyết muốn giải thích một nguyên nhân xã hội làm cho nghề gốm ở đây tàn lụi cùng với sự ly tán chủ nhân của nó. Các tài liệu lịch sử của thời Nguyễn cũng chỉ nói đến gốm Cậy, không một lời nói đến Hợp Lễ, điều đó chứng tỏ, đến thế kỷ 19, lò gốm Hợp Lễ đã nguội lạnh và sản phẩm của nó không còn tiếng tăm trên thị trường.

Tài liệu điền dã và thám sát cho biết, làng Hợp Lễ sống trên một di tích gốm khổng lồ, dài trên 200m, rộng tới 170m, tầng văn hoá dầy trung bình 2m, có khu vực tới 3.5m. Phế tích của lò nung chiếm tới 4/5 thể tích tầng văn hoá, mảnh bát đĩa và bao nung nhiều đến mức, thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, ngành giao thông đã mua của địa phương 8 sào phế tích dọc bờ sông để lấy vật liệu rải đường phục vụ chiến đấu.

Ngày 14-5-1986, lần đầu tiên di tích gốm Hợp Lễ được khai quật, nghiên cứu, mở đầu cho công trình nghiên cứu gốm sứ trên đất Đường An xưa. Công tác điền dã, thám sát, khai quật bước đầu thu kết quả khả quan;

Loại hình: số lượng nhiều nhất là bát và đĩa, ve lòng hoặc không có ve lòng, miệng thẳng hoặc ve không đáng kể, đáng chú ý là các loại bát lớn, dày, miệng thẳng hoa văn mờ, chảy sướt mướt nhưng không giống kiểu giọt lệ, các loại bát có hoa văn khắc chìm, xương gốm mỏng. Sau đó là các loại bát hương, chân bèo, bình vôi, ổng nhổ bát điếu, bình, chậu, lọ, chém, nậm, con giống bằng đất nung.. Ở đấy còn thấy một hộp xứ khối chữ nhật (9,3x9,5x11,5cm) giống như một cái tiểu nhỏ, trang trí cầu kỳ, có thể là vật dựng xá lỵ của nhà xư.

Công cụ sản xuất gốm: Bao nung, vòng sứ, các loại con kê: Hình đĩa 4 chân hình vằn khăn, ắc bàn xoay và một số hiện vật chưa rõ công dụng

Xương gốm: Phần lớn hiện vật có xương gốm thô xám nhạt, nhưng cũng không ít động vật có xương, trắng, mịn, đạt trình độ sứ cấp thấp.

Men: phổ biến là men trong, xanh rêu nhạt, nhiều vật men rạn. Một bộ phận có men ngọc, nâu, da, lươn, men dùng vẽ hoa văn chủ yếu là màu lam gồm nhiều sắc độ khác nhau.

Hoa văn: Hoa sưn vẫn là hoa văn chủ đạo, thứ đến cúc và một số hoa văn hình học khác. Hình động vật có: Rồng phượng, hổ phù, cá, ve sầu…

Phương pháp chế tạo: Hầu hết sản phẩm được tạo dáng trên bàn xoay, rồi trang trí hoa văn, tráng men, nung. Một nhóm sản phẩm được khắc vạch hoa văn sau khi đã tạo dáng trên bàn xoay, nhóm khác tạo dáng bằng phương pháp tạo hoa văn bằng khuôn kết hợp nặn, chuốt…khi nung những loại không ve lòng, dùng con kê để chống dính hoặc gắn 3 chân nhỏ vào chân bát đĩa thay con kê. Bao nung được dùng phổ biến và có khối lượng rất lớn.

Niên đại: Căn cứ vào hiện vật từ các lớp của tầng lớp văn hóa trong hố khai quật, căn cứ vào tài liệu thám sát, điền dã và thư tịch, dẫn đến nhận định bước đầu: Hợp Lễ là một trung tâm sản xuất gốm sứ dân dụng to lớn, ở đồng bằng châu thổ Sông Hồng, khởi nguyên từ cuối thời Trần, thịnh đạt vào thời Lê, tàn lụi vào khoảng cuối thế kỷ 18- thời kỳ Lê mạt đầy biến động, thậm chí suy thoái về kinh tế. Gốm Cậy hiện nay chỉ là một chồi non nhỏ bé mọc lên từ một hệ thống cổ thụ gốm sứ ven sông Sặt và sông Đô Đáy mà hợp Lễ là một đại thụ nhưng đã tàn lụi hàng thế kỷ nay.

Trừ những phần đã mất mát qua thời gian do vận động của dòng sông và con người, khối lượng phế tích của khu di tích gốm Hợp Lễ hiện nay cũng còn tới 7 vạn mét khối.

            Nghiên cứu di tích lò gốm Chu Đậu và Hợp Lễ là rõ một phần lịch sử sản xuất gốm sứ trên đất Hải Hưng và gốm Cậy. Qua phế tích cho biết, trong khoảng thời Lê, gốm Cậy được sản xuất căn bản như gốm Hợp Lệ về loại hình và kiểu dáng sản phẩm, về phương pháp chế tạo và cũng dùng bao nung hình tròn. Sang thời Nguyễn, phương pháp nung được cải tiến một bước quan trọng, thay bao nung hình tròn bằng bao nung hình chữ nhật, ghép bằng ba loại gạch lớn, kích thước khác nhau, sau mỗi lần ra lò, bao nung được coi như một loại sản phẩm.

Gạch Cậy chính là một bao nung cải tiến và do đấy lịch sử thời Nguyễn ghi: “Gạch và bát sản xuất ở Hương Gián, Kệ Gián, huyện Đường An, ở đây còn sản xuất các loại đĩa chén Nam'.(3). Dân gian gọi là gốm Cậy là lò bát Cậy, thực tế làng Cậy không chỉ sản xuất bát, mà sản xuất hầu hết các loại gốm sứ dân dụng, chất lượng thường kém hơn Bát Tràng (Hà Nội) nhưng giá rẻ, phù hợp với sức mua của đa số nhân dân nông thôn, nên sản phẩm vẫn dễ tiêu thụ, đầu thế kỷ này còn 72 gia đình mở chung 12 lò bát. Sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, các lò gốm Bát Tràng, Thanh Trì, Móng Cái được tư bản và thực dân Pháp giúp đỡ có ưu thế trên nhiều phương diện đã dội tắt lò bát Cậy bằng giá cả và chất lượng vào năm 1927. Sau 30 năm gián đoạn, nhờ sự giúp đỡ và khuyến khích của Nhà nước, gốm Cậy được phục hồi. Từ vài thợ gốm đã cao tuổi, với sự hướng dẫn của cụ Huỳnh, một nghệ nhân lão luyện của Bát Tràng, người từng được bằng cửu phẩm về nghề gốm, năm 1957, lò thứ nhất dựng xong bằng vốn của các gia đình đóng góp. Năm 1958 dựng xong lò thứ hai, năm 1961dựng xong lò thứ ba, với 286 hộ góp cổ phần và lao động sản xuất, kinh doanh, dưới sự chỉ đạo và quản lý hợp tác xã nông nghiệp.. Hơn 20 năm hoạt động nghề gốm sứ Cậy trải qua nhiều khó khăn về hình thức tổ chức, nguyên liệu, nhiên liệu, kỹ thuật, giá cả. Đến năm 1983 cơ sở sản xuất tập thể còn 72 lao động, hai lò, do huyện quản lý. Lao động còn lại ngoài việc đồng áng họ đã tổ chức liên gia hay trong từng gia đình sản xuất gốm sứ theo hình thức khác nhau. Trước hết nói về phương pháp sản xuất gốm cổ truyền tồn tại đến đầu thế kỷ này.

Nguyên liệu chính làm xương gốm Cậy là đất sét và cao lanh, theo truyền thuyết thì thời trung cổ sử dụng đất sét tại địa phương. Thời kỳ cận đại lất đất cao lanh của làng dùng, Tràng Bạch (Đông Triều). Men dùng tro trấu hoặc tro củi lọc lỹ hoà với cao lanh khai thác ở Hồ Lao (Đồng Triều). Chất liệu dùng để trang trí hoa văn chủ yếu là (ô xít cô ban) màu lam nhạt. Ngoài ra còn nhiều chất liệu khác để pha chế các loại màu khác nhau (1).

Công cụ sản xuất: Bàn xoay chuốt gốm sứ Cậy cấu tạo không khác gì bàn xoay của gốm Quao. Cái ắc hay rốn bàn xoay gọi là cái lú, cái song cũng tương tự nhưng chất lượng tốt hơn vì đều được làm bằng cao lanh, tráng men nên cứng rắn, trơn nhẵn hơn đất nung

Lò nung: Lò nung thời trung cổ về trước đây hiện nay chưa rõ, thời kỳ cận đại chủ yếu dùng lò món. Gọi là là món vì lò món được chia làm 12 món hay 12 phần bằng nhau. Trước đây ít gia đình nào có riêng một lò mà thường là nhiều gia đình dựng chung. Mặt bằng của lò có hình chữ nhật, cửa lò là nơi đốt lửa, cuối lò có hai ống khói. Đáy lò chia làm 12 ô bằng nhau có tên gọi riêng cho từng ô.

Xung quanh và nóc lò xây gạch. Thông thường mỗi gia đình xếp sản phẩm của mình vào một món. Mỗi một món dựng thành từng một hôpk, hộp có 7 tầng tương đương với 7 bao nung, mỗi hộp xếp được 6-8 chồng bát. Bao nung làm bằng bã của đất bát nhào với gạch, sỏi vụn đập nhỏ đóng thành 3 loại gạch lớn (5). Có độ dày bằng nhau (6cm).

- Gạch nhất hay còn gọi là gạch rắn 60cm x 30cm.

- Gạch nhì hay còn gọi là  gạch hai lai dài 80cm x 25cm.

- Gạch ba hay còn gọi là gạch dựng dài 50cm x 21cm.

Gạch nhất xếp nằm ngang, dùng làm đáy bao nung, mỗi bao nung, xếp hai viên thành một hình vuông 60cm x 60cm.

Gạch ba xếp nghiêng, tạo thành một khối hộp chữ nhật. Do xếp liên hoàn nên nắp bao nung dưới đáy bao nung trên, như vậy mỗi bao nung gồm 6 viên gạch, trừ bao trên cùng phải dùng 8 viên. Ở khoảng bao nung thứ hai kể từ đáy lên dùng gạch nhì làm đáy. Gạch nhì dài hơn gạch nhất 20cm nên mỗi đầu chờm ra 10cm so với thành bao nung. Trên phần thừa ấy để mỗi bên một cái bát hoặc đĩa để kiểm tra độ chín của vật nung trong hộp. Một bao nung cao 27cm một hộp cao 27cm x 7 cm = 189cm, như vậy lò cao khoảng 2m. Mỗi hộp cần 14 viên gạch nhất, 2 gạch nhì, 28 gạch ba bằng 4 viên các loại, một lò 12 món, mỗi món 2 hộp cần 1056 viên trong đó 336 gạch nhất, 48 gạch nhì, 672 gạch ba.

Lò xây bằng gạch, giữa có 10 cột nống để các bao nung dựa vào cho vững chắc. Bên cạnh cột nống có 10 lỗ tra củi. Lò có chiều cao khoảng 6m rộng 3mét.

Nhiên liệu đốt lò bằng củi gỗ.

Chuẩn bị nguyên liệu: Đất thỏ trắng, đất dùng phơi khô, đập nhỏ, giần lấy bột tơ, bỏ tạp chất. Đất dùng đã lọc với đất sét tại địa phương cũng được giần lọc như trên mỗi thứ một nửa hoà lẫn vào nhau với nước cho đủ độ dẻo, ủ vài ba ngày rồi đưa lên bàn xoay tạo dáng, chuốt bát đĩa trên bàn xoay tạo dáng cũng tương tự như chuốt nồi, tuy không có khuôn nhưng phải có cữ bằng sọ dừa để tạo dáng phía ngoài hoặc phía trong của vật chuốt. Khi vật chuốt có hình thù đã định được lấy ra khỏi bàn xoay, đặt từng hàng vào giá đỗ, đưa lên bàn phơi trong cái lán, nếu trời nắng có thể đem ra sân phơi cho chóng nỏ, xương gốm khô lại đưa vào bàn xoay tráng một lớp áo mỏng bằng đất sét trắng khai thác ở Hồ Lao (Đông Triều) rồi tráng men cho đều, gọi chân đường vật và tạo đường ve trong lòng bát đĩa để chống dính rồi xếp lại thành từng chồng, chuẩn bị vào lò.

Nung gốm: Khi các gia đình đã chuẩn bị đủ gốm sống cho một lò thì tiến hành gắp thăm. Ai gắp được món nào thì xếp sản phẩm của mình vào món ấy. Khi xếp món sống vào trong bao nung, người ta lựa sao cho tận dụng tối đa không gian của mỗi bao mà vẫn bảo đảm kỹ thuật. Các chồng bát đĩa phải xếp cho thẳng đều, chân của cái trên phải đặt đúng đường ve lòng của cái dưới. Lớp trên cùng của một chồng bát có thể để một bát điếu cho gọn. Xếp lò xong lấp kín các cửa, kể cả lỗ tra củi ở nóc, chỉ để lại cửa chính để đốt lửa nung. Sau một ngày, một đêm, toàn bộ bao nung đổ hồng nhưng chưa đều ở từng món. Tạm thời đóng cửa lò, mở các lỗ ở nóc lò, dùng móc sắt móc cái bát đối chứng ở tại các hộp nung để kiểm tra độ chín của từng món. Nếu món nào con non phải tiếp củi trực tiếp từ  nóc xuống, rồi nung tiếp cho đến khi các món chín đều. Chờ lò nguội, rỡ các món từ trên xuống dưới. Sản phẩm được phân loại, buộc lại thành từng chục dây cói, xếp vào sọt rồi độn rơm, bán buôn cho các thương lái, chuyển xuống thuyền, chở đến các chợ. Sản phẩm phụ là các bao nung, tức ba loại gạch cỡ lớn, không vàng đỏ như gạch làm bằng đất sét mà có màu xám nhạt, trên mặt và thành còn lộ ra những viên sỏi nhỏ, dân gian quen gọi là gạch Cậy theo đường sông về các làng xã tham gia đắc lực vào việc xây dựng các công cộng, lát sân, xây móng nhanh chóng và bền chắc.

Sản phẩm gốm Cậy gồm nhiều loại hình, nhiều nhất là bát đĩa, rồi đến tích, chén, bát điếu, nậm, rượu, bình vôi… Chất lượng có phần kém hơn thời kỳ trung cổ, xương gốm còn nhiều loại sản phẩm còn vàng đục, mang nhiều màu sắc của đồ dàn nhiều hơn là sứ. Gốm Cậy hiện đại phong phú về loại hình, đa dạng về kiểu lò, chất lượng ngày càng cao và chuyên sâu về từng loại sản phẩm. Để tìm hiểu về làng cốm Cậy hiện nay, chúng ta bắt đầu nghiên cứu từ gốm thô, gốm nhẹ lửa.

Gốm thô và kỹ thuật nung lò trấu

Đã từ lâu trong lịch sử, vào dịch tết và hội đền Kiếp Bạc, dân gian thích mua những con lợn đất nung, có một khe nhỏ ở lưng để bỏ tiền tiết kiệm. Trước cách mạng, tiền kim loại (đồng, kẽm, bạc) còn chiếm tỉ trọng lớn. Bỏ tiền hàng năm không bị mối mục. Cuối năm đập lợn kiếm tiền tiêu tết, đầu năm lại sắm một chú lợn khác làm chức năng như một quỹ tiết kiệm. Cùng với lợn đất, gà, vịt, voi, ngựa, ông phỗng, lọ hoa, những vật bài trí bàn thờ, tủ chè và các đồ chơi của trẻ em. Làng Cậy hầu hết những sản phẩm loại này.

Nguyên liệu không phải lọc, luyên kỹ như đất bát, chỉ cần lấy đất sét, nhặt hết tạp chát, nhào kỹ cho dẻo làm được. Khi tạo dáng không đưa lên bàn xoay, chỉ cần khuôn hai hay nhiều mang, khuôn có thể làm bằng đất nung, gỗ hay thạch cao, ví dụ làm lọ hoa, dùng khuôn hai mang, lấy đất sét đã luyện, dàn mỏng thanh tấm, có độ dày thích hợp rồi đặt lên khuôn, tạo sáng từng nửa hiện vật trên hai khuôn, rồi khép hai khuôn lại với nhau, tạo thành lọ hoa. Tháo khuôn, gia công chút ít ở phần miệng và đường giáp khuôn là xong phần tạo dáng. Gốm sống phơi khô kiệt thì xếp vào lò nung.

Lò nung loại gốm này lò trấu, có hình hộp chữ nhật đắp bằng đất, đáy rộng trung bình 1x1,5m, cao 1,5m, có ba cửa và ba rãnh lò. Khi xếp lò, cứ xếp một lớp trấu lại xếp một lớp gốm, lần lượt như vậy đến tận nóc lò. Dùng rơm nhóm lò, trấu bắt lửa rất nhanh, chỉ sau 12 giờ là hoàn thành một mẻ nung. Nhiệt độ trong lò chỉ đạt tới 500 độ C. Gốm tuy chín vàng nhưng còn rất non, gõ không ngân vang nhu sành, sứ. Và để nước thấm qua. Nung xong, xếp hiện vật thành từng loại, dùng phẩm màu, mực ta trang trí hoa văn, gần đây dùng sơn màu nên công đoạn  này tiến hành khá thuận lợi.

Sản xuất đồ sành và kỹ thuật nung lò cóc:

Dọc sông Kẻ Sặt đôi nơi có dấu vết của lò sản xuất đồ sành đã thất truyền từ lâu. Hơn 20 năm lại đây, nghề này được phục hồi tại Làng Cậy. Mặt hàng sành ở đây gồm có chum nhỏ, lọ, vải, nồi, và tiểu sành. Nguyên liệu chính là đất sét khai thác tại địa phương, được lọc và luyện kỹ hơn đất làm nồi nhưng phần gia công ít hơn, vì phần lớn hiện vật có đáy bằng. Riêng tiểu sành thì dùng khuôn đúc riêng từng tấm: Đáy, thành, nắp, trốc, chờ cho đất se lại định hình, tiếp tục gắn các tấm lại thành các tiểu hoàn chỉnh. Sản phẩm ở đây được tráng men nhẹ lửa phía ngoài, lò nung là kiểu lò cóc, giống như lò gốm Lâm Xuyên nhưng ở hai bên sườn có vài lỗ nhỏ để kiểm tra và tiếp củi lần lượt  từ của lò đến phía ống khói để sản phẩm chín đều. Nhiên liệu chủ yếu là củi gỗ và phần than đá. Nhiệt độ trong lò lên tới 1000 độ C làm cho xương gốm rắn chắc, có màu nâu đậm hoặc xám tuỳ theo nguyên liệu, men chảy láng bóng, thành một lớp áo không thấm nước. Những sản phẩm như vậy được gọi là đồ sành. Để đồ sành có màu sắc hấp dẫn, người ta quét lên phía ngoài sản phẩm một lớp mỏng đất đỏ (son) trước khi tráng men.

Lò tủ và phương pháp sản xuất hàng mỹ nghệ:

Một số gia đình ở làng Cậy sản xuất gốm mỹ nghệ theo phương pháp truyền thống, nung bằng lò tủ. Sản phẩm gồm có: tượng các loại, chậu hoa, chân đèn, lộc, bình, ấm, tích, chén, sứ cao cấp với kiểu dáng, màu men dân gian, phục hồi các mẫu gốm cổ. Những sản phẩm có tiết diện tròn đều, được tạo dáng trên bàn xoay, các chi tiết đúc bằng khuôn hoặc nặn bằng tay rồi ghép lại. Những sản phẩm có nhiều góc cạnh, chi tiết đắp nổi như bát hương, tượng tam Đa. Di Tặc phải đúc bằng khuôn nhiều mang. Tạo dáng xong phải gia công các chi tiết, tô vẽ hoa văn bằng các loại men màu thích hợp sau cùng tráng một lớp men trong. Khi xếp sản phẩm vào lò phải đặt trong bao nung bằng đất chịu lửa hình tròn. Những vật cồng kềnh như chân đèn thì đúc rời làm 3 bộ phận: Thân, cổ, giá để rèn theo phương pháp cổ truyền, như vậy dễ đặt trong bao nung

Lò tủ đứng như một tủ đứng xây bằng gạch chịu lửa, đáy hình chữ nhật, độ lớn trung bình 1x1,5m, cao 2m có m

Theo sách Nghề cổ truyền Hải Hưng

 

Các bài mới nhất

-  Phát triển làng nghề để xây dựng nông thôn mới
-  Ngọt bùi cốm An Châu
-  Làng nghề bánh đa Hội Yên, xã Chi Lăng Nam, Huyện Thanh Miện gặp khó khăn trong việc mở rộng thị trường
-  Nghề đan mây tre ở Đan Giáp
-  Nghề Mộc thôn Phương Độ, Hưng Thịnh, Bình Giang với phát triển kinh tế nông thôn.
-  Cẩm Giàng thêm một làng nghề được công nhận
-  Nam Sách: Làng nghề sản xuất hương cho thu nhập khá
-  Nghề mộc ở Cổ Dũng, Kim Thành
-  Thanh Miện: nghề nuôi thủy sản phát triển
 

Các bài trước

-  Tín hiệu vui từ làng nghề mộc Đông Giao
-  Bột Lọc Quý Dương
-  Tháng chín đôi mươi tháng mười mùng năm
-  Bánh Đậu Xanh Hải Dương
-  Vải Thuý Lâm
-  Bún Đông Cận
-  Bánh Đa Kẻ Sặt
-  Vàng Bạc Châu Khê
-  Rượu Phú Lộc
-  Lược Sừng Đồi Mồi - Hà Xá
 
BÀI VIẾT TIÊU BIỂU

Cách trị bệnh đậu gà

Hiện nay, thời tiết khô hanh, trên đàn gà xuất hiện các mụn bằng hạt đỗ mọc ở mào, xung quanh mắt… Đây là triệu chứng điển hình của bệnh đậu gà.

Chi tiết >>


Nguyên tắc điều trị bệnh đường tiêu hóa ở lợn

Bệnh về đường tiêu hoá khá phổ biến trong chăn nuôi lợn, nhất là đối với lợn con. Nếu người nuôi không biết điều trị đúng phương pháp thì tỷ lệ lợn chết cao, gây thiệt hại lớn.

Chi tiết >>


Trừ cỏ ở má luống hành

 Bà con nông dân ở một số địa phương thường hay dùng thuốc Sunrice 15WG để phun phòng trừ cỏ cho má luống hành.

Chi tiết >>


Trừ bệnh sương mai hại cà chua sớm

 Hiện nay, bệnh sương mai đang phá hại mạnh diện tích cà chua sớm

Chi tiết >>


Kỹ thuật chăn nuôi vịt theo hướng nuôi nhốt hoàn toàn

(VietQ.vn) - Chăn nuôi vịt theo mô hình nuôi nhốt hoàn toàn rất tiện lợi lại có kỹ thuật chăn nuôi đơn giản. Tuy nhiên cần tuân thủ đúng các yêu cầu về thức ăn, nước uống, cách chăm sóc để đạt năng suất, chất lượng vịt cao nhất.

Chi tiết >>


Công ty TNHH Một thành viên giống cây trồng Hải Dương đã nghiên cứu ra hai giống lúa NB01 và lúa nếp DT22. Hai giống lúa này ngắn ngày, kháng bệnh tốt và mang lại năng suất cao.

Chi tiết >>


3NTV-VTC16: Làm giàu từ nuôi thỏ ngoại

Chi tiết >>


Khá lên nhờ nuôi dê Boer

 Sau thời gian tìm hiểu, đầu năm 2013, ông Nguyễn Văn Nam ngụ ấp Bưng Cần, xã Bảo Hòa, huyện Xuân Lộc, Đồng Nai đã mạnh dạn đầu tư nuôi 25 con dê giống Boer (Hà Lan). Đến nay, mô hình này đạt hiệu quả kinh tế cao, ông Nam trở thành người thành công đầu tiên khi nuôi giống dê này ở địa phương.

Chi tiết >>


Hạn chế héo xanh cà chua

 Thâm canh cà chua đã phát triển rộng rãi ở nhiều vùng đất trồng màu vùng ĐBSH, song việc khống chế bệnh chết héo xanh đối với nông dân đang là bài toán nan giải. Nhiều nông dân trao đổi, bệnh này diễn ra đột ngột và xóa sổ rất nhanh diện tích cà chua khiến cho họ trở tay không kịp. Cây chết nhiều trong giai đoạn sinh thực (cây đang ra hoa và phát triển quả) khiến cho thiệt hại về năng suất là rất lớn

Chi tiết >>


Kinh nghiệm trồng dưa, bí bò đất

 Với các cây họ bầu bí, vụ đông sớm có quỹ đất rộng, trồng dưa, bí dễ bán lại không phải làm giàn, bảo vệ thực vật dễ dàng hơn, thời gian sinh trưởng của các giống ngắn… nên được nhiều nông dân lựa chọn.


Chi tiết >>


SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HẢI DƯƠNG