SO KHOA HOC CONG NGHE - KIEN THUC NONG NGHIEP
Sunday, March 29, 2020
Kỹ thuật nuôi và vỗ béo trâu thịt   -   Kinh nghiệm thâm canh cây ăn quả có múi   -   Trừ cỏ ở má luống hành   -   Trừ bệnh sương mai hại cà chua sớm   -   Công ty TNHH Một thành viên giống cây trồng Hải Dương đã nghiên cứu ra hai giống lúa NB01 và lúa nếp DT22. Hai giống lúa này ngắn ngày, kháng bệnh tốt và mang lại năng suất cao.   -   3NTV-VTC16: Làm giàu từ nuôi thỏ ngoại   -   Xử lý phèn trong ao mùa mưa   -   Kinh nghiệm nâng cao năng suất và phẩm chất ớt vụ xuân hè   -   Kinh nghiệm nuôi gà thịt hiệu quả   -   Dịch hại cần chú ý vụ hè thu   -   Phòng trị bệnh đầu đen ở gà   -   Phòng bệnh tổng hợp cho cá   -   Một số kinh nghiệm nuôi vịt thả đồng   -   Kỹ thuật trồng, chăm sóc chuối lùn   -   Kỹ thuật trồng ớt ngọt theo hướng an toàn   -   Bệnh thán thư hại khoai sọ   -   Bón phân đón đòng cho lúa chiêm xuân   -   Kỹ Thuật Trồng Nấm Rơm   -   Sử dụng phân bón lá cho lúa   -   Phòng trừ chuột hại lúa xuân   -   Những vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đối với ao nuôi thủy sản   -   Nhện gié hại lúa   -   Nấm đối kháng hạn chế rau màu héo rũ   -   Bệnh héo tươi, héo xanh trên ớt   -   Bệnh loét hại cây có múi và biện pháp phòng trừ   -   Để vườn cam sành lâu cỗi   -   Kỹ thuật trồng cải bắp   -   Bón thúc cho lúa đẻ nhánh ở vụ xuân   -   Khắc phục lúa gieo thẳng chậm ra lá   -   Kinh nghiệm nuôi gà Đông Tảo   -   Nhân giống chuối tiêu hồng bằng công nghệ nuôi cấy mô   -   Chủ động chống rét cho cây trồng, vật nuôi   -   Cần chính sách mới cho thủy sản theo GAP   -   Lưu ý khi nuôi chim trĩ   -   Bệnh đạo ôn   -   Chống rét cho mạ và chăm sóc lúa   -   Cảnh giác thương lái Trung Quốc mua lá khoai lang   -   Trồng và chăm sóc vườn cây ăn quả bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm   -   Khẩn trương chống rét cho mạ và lúa xuân   -   Kỹ thuật nuôi chạch đồng   -   Kỹ thuật diệt chuột   -   Trồng rau trong hộp xốp   -   3 giống hoa đào   -   Quản lý sức khỏe tôm nuôi khi chuyển mùa   -   Chăm củ cải trắng vụ đông   -   Ương dưỡng tôm giống trước khi nuôi   -   Lưu ý khi lưu giữ cá giống qua đông   -   Cho hành lá thêm xanh   -   Nấm bệnh héo rũ hại hành   -   Bệnh héo rũ Panama hại chuối và biện pháp phòng trừ   -   Trồng khổ qua không khó   -   Để nuôi cá chép giống V1 đạt năng suất 2 tấn/ha   -   Tăng cường phòng chống dịch lở mồm long móng   -   Nuôi ong lấy mật - cải thiện kinh tế hộ gia đình   -   Bón phân hợp lý cho cây chè ở miền núi phía Bắc   -   Biện pháp hạn chế hao hụt lươn khi mới thả giống   -   Ủ chua cỏ xanh để nuôi trâu, bò   -   Sản xuất lươn giống   -   Để dưa leo không bị đắng   -   Nhận diện "công nghệ" SX thuốc BVTV giả   -   Nấm sò và kỹ thuật nuôi trồng   -   Chăm sóc rau màu khi gặp thời tiết bất lợi   -   Giảm thiểu tỷ lệ chết héo rũ cho hành vụ đông   -   Quy trình trồng khoai tây bằng phương pháp làm đất tối thiểu có phủ rơm rạ   -   Nấm bệnh hại bí xanh   -   Kinh nghiệm nâng cao năng suất, chất lượng củ đậu thu đông   -   Cách nhận biết bệnh thán thư hại rau màu   -   Chọn giống đu đủ cho nhiều quả   -   Thức ăn có sẵn cho cá nước ngọt   -   Hướng tới công nghệ chăn nuôi không phân   -   Hướng dẫn gieo trồng giống ngô Nếp lai F1 HN88   -   Cách phòng, chống dịch cúm gia cầm   -   Bí quyết nuôi cá trắm đen kiếm lời   -   Tự trồng rau gia vị tại nhà   -   Sản xuất giống cá trắm cỏ chính vụ   -   Một số điểm cần lưu ý trong chăn nuôi thỏ   -   Bệnh nấm phổi trên vịt   -   Một số lưu ý trước khi vào vụ nuôi tôm xuân hè 2013   -   Cách phòng trừ bệnh đạo ôn trên lúa xuân   -   Kỹ thuật trồng hành củ, hành hoa an toàn   -   Lưu ý khi sử dụng vôi và hóa chất cho ao nuôi   -   Đậu tương DT51 có thể trồng 3 vụ/năm   -   Sản xuất thành công khoai tây siêu nguyên chủng   -   Một số biện pháp chủ yếu chăm sóc và bảo vệ lúa chiêm xuân năm 2013   -   Lưu ý bón thúc đẻ nhánh lúa chiêm xuân   -   3 bước chống dịch lợn tai xanh   -   Sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi thỏ   -   Một số biện pháp hạn chế tôm chết trong quá trình thả nuôi   -   Bệnh dịch tả vịt   -   Nuôi cá chạch - Hướng mới nhiều triển vọng   -   Trồng dong riềng xen ngô lãi lớn   -   Chăm sóc lúa xuân đúng cách   -   Kỹ thuật trồng lại đào sau tết   -   Nhiều lưu ý về sản xuất vụ đông xuân   -   Lợn “tên lửa” dễ nuôi, dễ bán   -   Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính trên gia cầm   -   Nuôi bồ câu gà   -   Giống dưa leo Cúc 71   -   Hiện tượng heo cắn đuôi nhau   -   Bí quyết trồng cam đường Canh kiếm tiền Tết   -   Chế phẩm từ vi khuẩn giúp tăng năng suất cây lạc   -   Phòng trừ bọ nhảy ở rau cải   -   Quy trình sản xuất cây bí xanh theo tiêu chuẩn VietGAP   -   Kỹ thuật phòng và trị bệnh trong nuôi trồng thủy sản   -   Những điểm cần lưu ý khi nuôi cá rô đồng   -   Cách nhận biết hải sản bị ngâm ướp urê   -   Kỹ thuật trồng củ cải   -   Nhận biết bệnh cúm gia cầm   -   Làm chuồng úm chống rét cho lợn sữa   -   Cách làm đào nở hoa đúng tết   -   Trồng và chăm sóc rau màu khi rét đậm   -   Cách nhận biết bệnh vi-rút trên rau   -   Hướng dẫn biện pháp diệt chuột   -   Hạn chế mạ chết từng chòm   -   Một số lưu ý khi phân biệt 4 bệnh đỏ ở lợn   -   Những giải pháp đào ao thả cá đầu tư thấp   -   Một số lưu ý để nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi gà   -   Bảo quản và sử dụng vắc xin trong chăn nuôi   -   Khẩn trương cày ải phơi đất   -   Chủ động phòng chống rét cho trâu bò   -   Sử dụng thuốc BVTV theo khuyến cáo   -   Bí quyết phòng trừ phi hóa dịch hại trong vườn   -   Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cà chua   -   Bệnh cúm gia cầm và biện pháp phòng trị   -   Giống đậu tương cao sản DT51   -   Hiệu quả từ nuôi gà nòi chân vàng   -   Chăm sóc, quản lý tôm cá trong mùa rét   -   Phòng và điều trị bệnh nấm phấn đen ở chuối   -   Sản xuất gạo nhân tạo   -   Bệnh hại trên cây khoai tây, cà chua và biện pháp phòng trừ   -   Sâu bệnh hại trên cây dưa chuột và biện pháp phòng trừ   -   Mở rộng sản xuất trà xuân muộn   -   Nuôi trồng, khai thác thủy hải sản   -   Công nghệ sản xuất mạ khay   -   Cách ngăn ngừa dưa chuột đắng   -   Ngăn ngừa ô nhiễm nước và phòng bệnh cho cá   -   40% mẫu gà có dư lượng kháng sinh và chất cấm   -   Ngô không hạt - nguyên nhân và cách khắc phục   -   5 giống đậu tương năng suất cao   -   Bí đỏ dễ trồng, không kén đất   -   Xử lý hạt giống rau trước khi gieo   -   Nuôi trồng thủy sản theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia   -   Nên trồng ngô nếp lai F1 - HN88   -   Gà ri vàng rơm   -   Nhân giống nhanh cây đu đủ   -   Trồng lạc vụ đông bằng phương pháp phủ nylon   -   3 giống bí xanh cho vụ đông   -   Khắc phục hành thối nhũn   -   Bệnh chạy dây bí xanh   -   Nuôi cua lãi hơn trăm triệu   -   Những điểm cần lưu ý khi nuôi cá rô đồng   -   Kỹ thuật nuôi cá chình thương phẩm trong ao   -   Thụ tinh nhân tạo giống gà ri   -   Bí quyết để hoa hồng ra hoa nhiều vào ngày tết   -   Để giá trị khoai lang tăng cao   -   Đã có vacine khống chế virus cúm gia cầm mới   -   Một số lưu ý khi sử dụng vaxin phòng bệnh cho gia súc, gia cầm   -   Phòng và trị bệnh cho động vật thủy sản trong mùa mưa lũ   -   Trồng khoai lang Thu Đông hiệu quả   -   Trồng khoai tây bằng phương pháp làm đất tối thiểu   -   Kỹ thuật nuôi cua đồng   -   Dùng phương pháp cấy mô để nhân giống chuối già lùn   -   Nhân giống khoai tây bằng nuôi cấy mô và công nghệ trồng không cần đất   -   Hướng dẫn sử dụng vắcxin cúm gia cầm đúng cách   -   Điều khiển nhãn ra hoa rải vụ   -   Hỗ trợ đổi mới chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học   -   Trồng cam sành theo hướng sạch, an toàn   -   Cách xử lý bệnh chổi rồng trên nhãn   -   Để bí xanh trái vụ bền cây, sai quả   -   Kỹ thuật trồng cà chua   -   Nuôi ngan thịt chọn giống và chuẩn bị   -   Chi Lăng Nam: Biến tiềm năng thành hiện thực   -   Sẽ có Nghị định về tích tụ ruộng đất   -   Nghị quyết BCH Trung ương lần thứ 7 (khoá x) về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn   -   Cải tiến đàn Bò   -   Kỹ thuật chăm sóc một số hoa Lan   -   CHẠM KHẮC GỖ ĐÔNG GIAO
9:59

KIẾN THỨC NÔNG NGHIỆP

Tin tức hàng ngày

Trồng trọt

Chăn nuôi

Thủy sản

Chế biến, bảo quản NS

Làng nghề

Kỹ thuật mới

Mô hình sản xuất

Thị trường

Chính sách hỗ trợ

Khoa học thưởng thức

Hỏi đáp về KHCN

Video về Nông nghiệp

TÌM KIẾM THÔNG TIN
  

Số lần truy cập
17012719

Giầy dép Tam Lâm

( Thời gian đăng : 19:00:16 27/02/2009 )     

Tam Lâm là tên ba làng: Phong Lâm, Văn Lâm, Trúc Lâm, tục gọi là ba làng Trắm, thuộc tổng Phạm Xá, huyện Tứ Kỳ, phủ Hạ Hồng thời Lê, đầu thế kỷ 20 mới cắt chuyển về huyện Gia Lộc, nay thuộc xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc, giáp đường 17 về phía tây cách huyện lỵ 3km về phía nam. Ba làng Trắm sống với nhau như anh em ruột, lời ăn tiếng nói mộc mạc, phong tục tập quán giống nhau và cùng làm chung một nghề. Trước cách mạng, do đất rộng, đồng ruộng màu mỡ, lại có nghề phụ nên tuy dân số đông vào bậc nhất, nhì tổng (1) nhưng đời sống vẫn ổn định, hàng năm cấy một vụ cũng đủ ăn.

Không phải đến hôm nay do đời sống được cải thiện đã thúc đẩy mạnh mẽ phong trào ngói hoá ở nông thôn mà ngay từ trước cách mạng, đến Tam Lâm đã thấy như một làng ngoại thị, đường làng rộng rãi, lát đá, vỉa gạch: đình chùa, đến miếu uy nghi, nhiều nhà xây gạch, lợp ngói khang trang theo kiểu mới, một số gia đình trang trí cổng ngõ, kẻ bảng, để tên của cửa hiệu mình ở thành phố. Làng quê trù phú theo kiểu tân thời. Đên đây, vào các gia đình thường thấy trên bàn thờ có những bức truyền thần hình ảnh của ông bà. Nhìn kỹ một chút, chúng ta đều thấy các cụ đi giầy nam sơn then. Phải chăng những người thợ ở đây thể hiện sự trân trọng nghề nghiệp của mình cùng với những hình ảnh thiêng liêng ấy.
Nghề đóng giầy dép da ở Tam Lâm có cách ngày nay 5-6 thế kỷ. Buổi đầu kỹ thuật thuộc da của ta còn kém so với sản phẩm cùng loại nhập khẩu, thợ thuyền là nho sỹ đương thời mong muốn hàng da của ta bằng hoặc vượt các nước láng giềng. Theo sắc phong tại địa phương và một số tài liệu thành văn, thì vào đầu thời Mạc, tiến sỹ trẻ tuổi Nguyễn Thời Trung người Trúc Lâm phục mệnh đi sứ Minh, ông đã mang theo ba người thợ giỏi của làng là Phạm Thuần Chánh, Phạm Đức Chính, Nguyễn Sĩ Bân cùng đi để tìm cách học tập, nâng cao kỹ thuật thuộc da và các mặt hàng bằng da (2). Hoàn thành sứ mệnh về nước, mỗi người thợ giầy trở về làng thúc đẩy nghề thuộc da đóng giầy lên một bước mới. Buổi đầu ít người theo học vì công việc vất vả, đòi hỏi kỹ thuật phức tạp, mỗi làng chỉ có khoảng mươi gia đình hành nghề, dần dần do lợi ích kinh tế, số người theo học ngày một đông và ở Tam Lâm có một lò thuộc da lớn.
Do hoàn cảnh kinh tế, xã hội, đến cuối thế kỷ 19 nhu cầu về giầy dép da chủ yêu vẫn ở đô thị và có tính chất mùa vụ, còn ở thôn quê, nhu cầu về giầy dép da không lớn, đa số nhân dân thường tự làm lấy guốc dép bằng vật liệu rẻ tiền và chế tạo thô sơ, do vậy hầu hết thợ Tam Lâm phải ra thành thị hành nghề. Họ tạm biệt quê hương vào cuối thu cùng với người giúp việc và đổ nghề ra thành thị. Ở đây họ mở cửa hiệu hoạt động sôi nổi suốt mùa đông- mùa của nghề nghiệp, cho đến giữa mùa xuân, khi ấm áp đã đẩy lùi giá lạnh, người ta có thể đi chân đất, tầng lớp thượng lưu cũng chỉ cần đến dép thôi, thì họ lại về quê, làm ruộng, nông vi bản vẫn là đạo chắc! Những người thợ hàng da đã góp phần làm nên văn minh đô thị và văn minh đô thị cũng theo họ về thôn trang làm cho làng quê tiến bộ.
Kinh tế, thương nghiệp phát triển, đô thị lớn dần lên, nhu cầu mọi mặt tăng tiến. Từ guốc mộc, hài cỏ tiến tới giày dép, phổ biến là dép một, dép cong; giầy Chi Long, Tân Long, Gia Định. Đến đầu thế kỷ này, dân tộc ta đã sáng tạo hàng năm trăm kiểu guốc dép, hài, hia khác nhau để bảo vệ trang trí đôi chân. Ngoài giầy dép, một loại mặt hàng da ra đời như: Yên, cương ngựa, ghệt, gối, thảm, ví, cặp da, bóng v.v… Từ khi tiếp xúc với văn minh phương tây và phương đông phát triển, nguồn nguyên liệu phong phú và chất lượng tốt hơn., thợ Tam Lâm học được nhiều phương pháp mới, đẩy nghề nghiệp của mình lên một bước đáng kể. Thợ hàng da không chỉ thực hiện theo mùa mà có thể sản xuất quanh năm. Một số người có vốn, có đầu óc kinh doanh định cư tại thành phố, mở của hiệu, công xưởng sản xuất, buôn bán các mặt hàng bằng da. Trong ngôn ngữ nghề nghiệp cũng xuất hiện một số ngoại lai như: Tai-pi, Phom, Tóong-xê, O - giê, Panh-xô…
Từ Hạ Hồng, những người thợ Tam Lâm về thành Đông- thành phố quê hương. Từ đây họ xuống thành phố cảng Hải Phòng, ngược lên cố đô Hà Nội, từ trung tâm văn hoá này họ tiến lên Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, xuôi xuống thành Nam, vô xứ thanh, xứ nghệ, rồi vượt biển vào Sài Gòn- Gia Định. Ở đâu có nhu cầu về hàng da, ở đó có người thợ Tam Lâm, trong số họ không ít người vượt đại dương và biên giới đến đô thị các nước hành nghề, nhưng tập trung đông nhất vẫn Hà Nội. Thợ Tam Lâm ở quây quần thành một phường, gọi là phường Hài Tượng- phường của những người thợ giày, ở tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương, rồi phát triển sang cả sang cả đất thôn Tả Khanh (nay thuộc ngõ Hàng Hành) tiến tới lập cả một phố, gọi là phố Hàng Da tồn tại đến ngày nay. Một số cửa hiệu lớn xuất hiện: Đức Mẫu người Trúc Lâm, Vĩnh Thái (người Phong Lâm), Tú Liêu (người Văn Lâm)…Chủ hiệu vừa là chủ xưởng, vừa là chủ hiệu buôn gồm nhiều mặt hàng da khác nhau. Mỗi một cửa hiệu thông thường có từ 3 - 5 thợ, những hiệu và xưởng lớn có tới 70-80 thợ, ở các thành phố khác cũng lần lượt mọc lên các cửa hành da lớn mà ông chủ vốn là thợ giầy Tam Lâm. Cũng như nhiều ngành nghề khác, dưới chế độ phong kiến, những người thợ giỏi, có biệt tài thường bị bắt vào kinh đô làm những đồ dùng đặc biệt cho vua chúa. Cuối thế kỷ 19 người ta còn nhớ các ông: Vũ Văn Bình, Vũ Văn Giáp, Vũ Bá Hợp được triệu tập vào Huế đóng giầy dép cùng những mặt hàng bằng da theo yêu cầu của triều đình và đã được cấp bằng cửu phẩm.
Nghề thuộc da đóng giầy dép là một nghề độc đáo và giữ vai trò quan trọng trong đời sống của nhân dân Tam Lâm từ nhiều thế kỷ. Nhờ nghề này mà không ít các gia đình trở lên sung túc rồi từ cuộc sống thôn dã trở thành thị trấn giàu có. Chính vì thế mà những người thợ giày không bao giờ quên công ơn các vị tổ nghề. Tại hành Văn Lâm hiện nay, ngôi đình thờ 3 vị tổ vẫn còn, thôn Trúc Lâm cũng còn nơi bái vọng. Người Tam Lâm dù làm ăn buôn bán ở những thành thị xa xôi, dù kỹ thuật và các mặt hàng đã đổi khác, họ cũng không bao giờ quên nghề nghiệp của mình. Ở những nơi tụ cư đông đúc, người Tam Lâm dựng lên đền thờ tổ nghề và thành hoàng của làng như ở Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác. Hàng năm đến ngày 17-2 và 17-8, thợ Tam Lâm rủ nhau về quê cùng dân làng làm lễ giỗ tổ và cũng là ngày hội lớn của làng. Nay ở Tam Lâm còn nhiều sắc phong cho các vị tổ nghề và văn tế bằng chữ Nôm viết vào đầu thế kỷ 20 (3). Có người còn làm thơ để nhắc nhở con cháu nhớ đến nguồn gốc nghề nghiệp của quê hương.
Làm nghề gì thì cũng trải qua học việc. Học và truyền nghề ngày xưa ở Tam Lâm thường được thực hiện trong các gia đình, họ hàng, anh em, chú bác truyền đạt kinh nghiệm cho nhau qua mỗi mùa vụ, mỗi loại hình sản phẩm. Việc phân công lao động cũng có tính chất gia trưởng, theo sự chỉ đạo của người cha và một người phải làm nhiều công đoạn. Khi kỹ thuật và mặt hàng phát triển, hình thành những cửa hiệu, xí nghiệp lớn thì sự phân công lao động chuyên hoá sâu hơn, hình thành các loại thợ: Thuộc da, đo số, vẽ mẫu, làm mũ, đóng đế. Trước cách mạng, học nghề có hai hình thức. Một là chủ hiệu tuyển người học việc để sau khi thành nghề ở lại làm cho họ thì mọi chi phí ăn, ở chủ phải lo liệu. Hai là, thợ cả mang con em, hay bè bạn học nghề thì người học nghề phải tự túc mọi mặt. Ngoài học chuyên môn, thợ học nghề phải làm các việc phụ: Đóng mở cửa hiệu, nấu hồ, gánh nước, nấu cơm, giặt giũ quần áo, dọn dẹp công xưởng. Trước khi Pháp xâm lược, mối quan hệ trong một cửa hiệu là mối quan hệ gia đình, bạn hữu. Anh em góp vốn mở hiệu cùng làm, cùng hưởng, khi vốn liếng đã khá thì có thể tách ra mở một cửa hiệu riêng ở nơi thuận tiện cho nghề nghiệp. Khi chủ nghĩa tư bản xâm nhập thì mối quan hệ trong một cửa hiệu riêng, một công xưởng là mối quan hệ chủ với thợ. Tuy vậy mâu thuẫn giai cấp chưa đến nỗi căng thẳng lắm. Chủ rất cần thợ giỏi để cạnh tranh với thị trường, thợ cũng rất cần chủ để có việc làm và thi thố tài năng.
Nghề thuộc da, đóng giầy dép là một nghề vất vả, đòi hỏi người thợ phải có sức khoẻ, có óc thẩm mỹ và thao tác chính xác, tinh vi, nhạy cảm với những mẫu mới, kỹ thuật mới. Thuôc da, đóng đế giầy là việc nặng nhọc, người nào đóng đế giầy nhiều năm thì hai đùi trai cứng lại. Trang phục của thợ giày gọn nhẹ, giản dị. Trong lúc làm việc mặc cái áo bảo hộ lao động gọi là táp bi hay táp dế ra ngoài quần áo để tránh bụi và các tạp chất của da. Đồ nghề của thợ giày khá phức tạp, tên gọi thời cổ nay chưa khảo cứu được, còn bộ đồ nghề cận hiện đại thì một số công cụ có nguồn gốc từ tiếng Pháp.
Khuôn giầy hay còn gọi là cái Phom (nguyên từ chữ là fome) làm bằng gỗ gồm nhiều cỡ:30, 35, 38, 40, 42 v.v…số cỡ là chiều dài của bàn chân tính theo đơn vị đo của nước Anh, mỗi số bằng 2/3cm. Trên lưng khuôn tách ra một khối nhỏ, gọi là miếng đệm để khi tháo ra được dễ dàng.
Dao cắt, gọt, nạo da còn gọi là Toongxê (traneher) bằng thép tốt, dài 20cm, rộng 5cm, dầy 4cm, lưỡi chéo và sắc, dùng để cắt, nạo mép da cho mỏng, gọt mép giầy, đế giầy khi sử dụng phải có hòn đá màu để mài, liếc thường xuyên.
Kéo cắt da tương tự như kéo cắt vải
Từ khi dùng cao su làm đế giày phải có lưỡi dao hình bán nguyệt để cắt xẻ khối cao su theo ý muốn.
Dao đũi chuôi gỗ, thân gấp khúc, lưỡi sắc nhọn hình chữ V dùng để tạo các rãnh nhỏ tăng ma sát ở đế.
Dùi xỏ lỗ xâu chỉ gồm 3 loại.
Dùi góp nhọn thẳng như đùi thông thường, nhưng cán dài, mũi ngắn dùng để khâu những đường thoáng như mép, đế.
Dùi móng có lòng máng đến mũi dùng để khâu qua lớp cao su. Xỏ dùi, luồn kim qua lòng máng rồi mới rút đùi, nếu rút đùi rồi mới xỏ kim thì dù có lỗ cũng không luồn được kim vì cao su đàn hồi, chèn mất lỗ.
Dùi diểu thân cong, mũi nhọn sắc dùng để luồn kim qua nhiều lớp da rồi mới mọc rùi lên.
Búa cong cân bằng gỗ, thân bằng sắt, cong dài, một đầu loe to hình tròn, một đầu thon cong nhỏ, đầu bằng dùng để đóng đanh những khe nẹp.
Bìa phe tức là cái đe cổ ngỗng bằng sắt, cổ dài cong như cổ ngỗng, mặt đe hình trái tim, đầu tròn to, đuôi thon nhỏ để luồn giầy vào đóng đanh.
Kim mỏ vịt hay còn gọi là kim gò dùng để kéo da bám sát vào khuôn.
Kím hãm: Dùng để cặp da, kéo chỉ, nhổ đanh.
Kim khâu: Dài 5-6cm, cứng, sắc, đầu hơi cong.
Đục sâu kèn: Có nhiều cỡ loại lớn dùng đục lỗ xỏ dây loại nhỏ dùng để đục các hoa văn trang trí.
Tán ô dể: Là một dụng cụ bằng sắt, đầu có trụ tròn nhô lên vừa bằng lỗ ô dê khi tán.
Ngoài dụng cụ trên phải dùng bàn ráp, dũa, chồi nhỏ (Panh-xô), móc khuôn, dít xếp trong quá trình sản xuất.
Chỉ khâu buổi đầu khâu bằng dây gai, đinh bằng tre, sau bằng dây tơ vuốt sáp, đinh bằng đồng.
Da đóng giầy phải thuộc, kỹ thuật thuộc da từ thế kỷ 19 trở về trước theo tài liệu ghi chép đương thời thì còn thô sơ lắm. Da trâu bò mua về ngâm nước lã 6 giờ, vớt lên xếp 50 tấm vào một hố đường kính 2- 2,5m, mỗi hố đổ khoảng 60 kg vôi sống. Mỗi ngày giở một lần từ dưới lên trên, sau một tháng vớt lên, rửa sạch, cạo lông, cắt bỏ những phần vô ích đến đây, thuộc da bước đầu coi như đã xong. Muốn có da màu sắc đỏ đậm tiếp tục ngâm da vào nước vỏ vẹt, cứ 10 ngày đổi nước một lần, sau một tháng vớt da phơi nắng sẽ được da có màu sắc đỏ đậm. Muốn có da màu vàng, xếp da vào lò, chuyên dùng, mỗi lần 4 tấm cho mặt có lông tiếp xúc với hơi nóng của lò 3 lần, mỗi lần 12 giờ, mặt có thịt 7 lần, mỗi lần 12 giờ, đốt lò bằng củi nhỏ, khói bốc lên thấm vào da, sau 5 ngày da có màu vàng. Muốn có da màu trắng thì ngâm da vào chum có phèn chua trong 5 ngày, vớt ra rửa, phơi sẽ có màu trắng. Cần da mềm thì sau khi thuộc phải vò nhiều lần. Gần một thế kỷ nay kỹ thuật thuộc da đã tiến bộ nhiều, việc tạo màu chủ yếu dùng thuốc nhuộm. Người thợ giầy nhận được những nguyên liệu tốt nên sản phẩm của họ bền đẹp và đa dạng hơn trước nhiều.
Buổi đầu dép của ta còn kêt cấu đơn giản. Người lao động đi bộ trên đường đá, sỏi, đi đôi dép mộc, phụ nữ sang trọng đi đôi dép cong, nam nữ đi đôi giày da kiểu Chi Long và Gia Định. Dép một là miếng da hình chữ nhật cắt lượn các góc, dài khoảng 22cm, rộng 10cm, giữa có quai ngang, một đầu có quai nhỏ bằng da. Quai ngang vòng qua đế có miếng da độn đóng đinh, quai nhỏ luồn qua đế vòng lên phía trên buộc lại. Khi đi luồn bàn chân qua quai ngang, xỏ ngón chân thứ hai vào quai nhỏ. Gần đây nhiều người còn đi dép như thế nhưng đế bằng lốp xích lô. Dép cong đế bằng hai lần da, phía trước cong lên. Hai quai đóng một đầu vào đế dép phía dưới, đầu kia chụm lại luồn qua một lỗ ở phía mũi, mặt dép sơn then. Đầu thế kỷ này còn nhiều người dùng dép cong.
Giầy nam giới Chi Long, Tân Long hay Gia Định khác nhau không đáng kể, đế bằng da, gót cao 2-3cm, mũi bọc da ôm lấy bàn chân (6-7cm), hai bên kéo dài về phía sau gót cao 1- 2cm, phía ngoài sơn đỏ hoặc sơn đen. Đế và gót trước đây đóng bằng da, sau có kếp thì lót một lần kếp đi êm và nhẹ. Đầu thế kỷ này, đàn ông mặc áo da, quần trắng, đeo kính trắng, đầu đội khăn xếp, cầm ô lục soạn, chân đi giầy Chi Long hay Gia Định đã là phong lưu sang trọng lắm.
Cấu tạo giầy dép xưa như vậy nên một số người thợ có thể làm tất cả các công đoạn. Dần dần do giao lưu văn hoá với các nước, khoa học kỹ thuật phát triển, thị hiếu mỗi thời một khác, nhu cầu giầy dép càng lớn, cấu tạo giầy dép phức tạp, loại hình mặt hàng gia tăng lên đòi hỏi chuyên sâu trong từng công đoạn. Chuyên sâu tạo nên năng suất cao nhưng đòi hỏi phải phối hợp với nhau ăn ý, chính xác, chỉ một công đoạn thực thi sai lầm là sản phẩm không dùng được.
Sản xuất hàng loạt theo một kiểu với các số khuôn quy định thì công việc khá thuận lợi, nhưng giầy sản xuất như vậy thường không vừa khít chân từng người. Chiều dài bàn chân bằng nhau, nhưng chiều ngang, độ dầy, mắt cá, gót thường không giống nhau, người mắt cá lồi, người mắt cá lép, ngón cái thẳng, ngón cái dặt..Bất đắc dĩ người ta mới mua giầy đóng sắn, còn có điều kiện thì đo chân, đặt hàng như kiểu quần áo may đo là tốt nhất.
Khi có khách đặt hàng, người thợ đo và vẽ mẫu phải làm việc đầu tiên. Đo chiều dài từ gót đến ngón dài nhất để tính số giầy, đo phần giữa 5 ngón chân, mu bàn chân phần cao nhất, cổ chân. Tìm khuôn thích hợp, nếu non một chút thì lấy da vụn vá vào cho đúng bàn chân đã đo. Dùng giấy vẽ mẫu có độ lớn bằng khuôn và hình thức theo thị hiếu của khách hàng như: Cổ cao, cổ thấp, cạnh vuông, cạnh tròn, mũi cong, mũi tẹt, đế cao, đế thấp, hoa văn trang trí…
Mẫu cắt vẽ xong chuyển cho thợ làm mũ, người thợ mũ chọn da có màu sắc, chủng loại theo yêu cầu của khách hàng đặt mẫu da lên bàn, ướm mẫu, vạch bút chì, cắt, lựa sao cho tiết kiệm da nhất và vừa đúng mẫu. Dùng da nạo mép da phía trái cho mỏng để dễ khâu, ghép, lấy da lót bắt đầu khâu các đường: vân, cạnh, cổ, hậu, lưỡi, cách. Nếu có máy khâu chuyên dùng thì công việc này có thể dùng máy. Khâu xong đột lỗ xỏ dây, tán ô dê, dột lỗ trang trí theo đúng mẫu.
Mũ làm xong chuyển cho thợ đóng đế. Phần đễ cũng phải cắt theo đúng bản mẫu. Đặt mũ lên khuôn, dưới đặt da đế, dùng kìm gò kéo mũ bám chặt vào khuôn ôm lấy da đế, gò đến đâu đóng đanh đến đấy. Gò kéo đều, sao cho mặt da phẳng, mũi, thân, gót gọn gàng, xinh xắn. Dùng kìm khâu mép da lại cho thật chắc, khâu đến đâu nhổ đanh đến đấy. Đặt miếng da độn vào giữa, có khi dùng tấm sắt mỏng để cho đế cứng. Đặt miếng da diễu lên đế, dùng kim diễu khâu dính miếng da này với da mũ và do nót bên trong. Cuối cùng đặt miếng da đế dùng dùi cóp khâu đường biên cột chặt da đế với mũ. Giày hiện đại, đường khâu này có thể thay bằng đinh đồng. Khâu đế xong thì đóng gót bằng đanh. Gò mũ và khâu giầy là việc cần sức khoẻ. Trước khi xâu kim luồn chỉ phải dùng loại dùi thích hợp, dùi da trước, luồn kim sau. Khi khâu dùng hai đầu chỉ, đầu chỉ này luồn sang, lại dùng chỉ ấy mà kéo chỉ kia lên, làm như vậy gọi là khâu hút, cũng có thể dùng hai kim. Khâu giầy để trên đầu gối, có vòng dây luồn qua bàn chân để giữ cho vững, hai tay cầm hai đầu chỉ kéo thật mạnh, căng lẳn vào da. Khâu xong dùng dao xén xung quanh cho nhẵn nhụi, tròn trặn. Dùng dít - xết quẹt cho thật nhẵn. Làm đế bằng cao su thì sau khi gò mũ và khâu xong, dùng móc chữ đinh rút khuôn ra, lồng giầy vào đe cổ ngỗng, dùng búa đóng đinh cho ăn chặt với mũ. Dùng dũa, dũa hai mặt cao su vào hai mặt, chờ khô rồi ép lại như vá xăm xe đạp, sau đóng đanh. Giầy thời cổ thì sơn đen hay đỏ phần mũi, giầy cận hiện đại thì đánh xi, xỏ dây cho vào hộp từng đôi một là coi như công việc hoàn tất.
Đối với loại giầy thông thường không phức tạp lắm, ba người một ngày có thể làm hoàn chỉnh hai đôi, riêng phần mũ có thể cắt, khâu sơ bộ được 10 đôi. Khâu dép thì đơn giản nhưng cũng phải có bản mẫu quai và đế
Giầy sản xuất theo đơn đặt hàng ngoài vỏ ghi rõ tên khách đặt hàng. Giầy sản xuất hàng loạt phải ghi rõ số giầy vào hộp. Những cửa hiệu sản xuất giầy trước cách mạng thường vừa sản xuất vừa bán buôn, bán lẻ, cũng có một số cửa hiệu chuyên buôn bán giầy dép mà không sản xuất.
Nói là thợ giầy dép nhưng thực tế là thợ Tam Lâm làm được tất cả các mặt hàng bằng da. Họ tiếp thu kỹ thuật mới rất nhanh và tay nghề không kém thợ ở những nước tiên tiến trên thế giới. Sau cách mạng đến nay, thợ Tam Lâm vẫn có một bộ phận hoạt động theo mùa, chủ yếu làm việc sửa chữa. Từ ngày miền Bắc giải phóng, những thợ giỏi của Tam Lâm vẫn giữ vao trò rường cột trong các hợp tác xã và xí nghiệp giầy và sản xuất mặt hàng da của nhà nước. Họ đã góp phần đáng kể vào việc sản xuất nhiều mặt hàng da cao cấp cho nhu cầu trong nước, xuất khẩu và phục vụ quân đội.
Thợ Tam Lâm tự hào về nghề nghiệp truyền thống của mình, góp phần quan trọng trong đời sống nhân dân và quốc phòng. Họ mong muốn có một xưởng đóng giầy mọc ngay trên quê hương của họ để đào tạo một lớp thợ trẻ tài năng, sản xuất những mặt hàng giá trị, tăng thu nhập, đáp ứng nhu cầu của nhân dân địa phương và đất nước.

Chú thích:
(1) Năm 1900 Trúc Lâm có 4.200, Phong Lâm 1.200, Văn Lâm 500 khẩu. Năm 1983 Tam Lâm có khoảng 5.000 khẩu, như vậy dân số tăng chậm do người thợ đóng giầy dép ra phố hành nghề rồi ở lại, mang theo cả gia đình.
(2) Theo tài liệu khai thác tại địa phương thì đoàn sứ bò qua thành phố Hàng Châu tỉnh Hồ Nam thấy nhiều người thuộc da đóng giầy đã dừng lại quan sát. Nguyễn Thời Trung và những người tùy tùng đến một gia đình họ Hứa lân la hỏi chuyện, học được bí quyết thuộc da của họ. Xưa và nay ở Tam Lâm tôn 3 vị thờ giầy nói trên là tổ sư của mỗi làng.
(3) Kinh nghĩ: Ba vị đức tổ hơn người sáng suốt, rất bậc tài hoa, dẫu ở Phong Lâm, Văn Lâm, Trúc Lâm như sinh trong một nhà. Gặp triều Lê vận mở phương Nam lúc mới chấn hưng công nghệ, theo quan Nguyễn Tướng Công (Nguyễn Thời Trung) sang sứ Bắc, đường đi cách trở quan hà, ngắm phồn hoa thứ nhất chốn kinh kỳ, thư nhàn dạo gót quan sát nền công nghệ thủ ấy, suy sinh kế gì bằng nghề thuộc da làm ra giầy dép, cách thức xem qua, học tập được lề lối kỹ thuật.
Đất khách trở về nước nhà, kiểu mẫu đã được đem áp dụng để phát minh công nghệ làm giầy dép, dạy bảo người trong ba thôn.
Thời vua hiển nghệ thuật, thời trọng ích cho nước ta, được sắc vua phong thượng y khuyến khích, tặng công sáng chế. Tổ lại dạy người thôn ấp làm kỹ thuật chuyên gia.
Vậy nay, uống nước nhớ đến nguồn, lòng kỷ niệm xuân thu báo đáp. Trồng cây được ăn quả, nhớ công ơn hương hoả nguy nga. Ngày lành vừa tới, lễ bạc gọi là, cầu cho nền kỹ nghệ mở mang khắp xứ. Cờ thông thường phấp phới gần xa. Kính thỉnh chữ vị tiền bối đồng lai phối hưởng (trích văn tế).

Nghề cổ truyền Hải Hưng (NTT sưu tầm)

 

Các bài mới nhất

-  Phát triển làng nghề để xây dựng nông thôn mới
-  Ngọt bùi cốm An Châu
-  Làng nghề bánh đa Hội Yên, xã Chi Lăng Nam, Huyện Thanh Miện gặp khó khăn trong việc mở rộng thị trường
-  Nghề đan mây tre ở Đan Giáp
-  Nghề Mộc thôn Phương Độ, Hưng Thịnh, Bình Giang với phát triển kinh tế nông thôn.
-  Cẩm Giàng thêm một làng nghề được công nhận
-  Nam Sách: Làng nghề sản xuất hương cho thu nhập khá
-  Nghề mộc ở Cổ Dũng, Kim Thành
-  Thanh Miện: nghề nuôi thủy sản phát triển
-  Gốm sứ Cậy
 

Các bài trước

-  Từ nón Ma Lôi đến nón Mao Điền
-  Lò Vịt Đông Phan
-  Lược Vạc
-  Đũi Thông
-  Chạm khắc gỗ Đông Giao
-  Chạm khắc đá kính chủ
-  Hồng Lục - Liễu Tràng trung tâm khắc in mộc bản
-  Chỉ Phú Khê
-  CHẠM KHẮC GỖ ĐÔNG GIAO
 
BÀI VIẾT TIÊU BIỂU

Cách trị bệnh đậu gà

Hiện nay, thời tiết khô hanh, trên đàn gà xuất hiện các mụn bằng hạt đỗ mọc ở mào, xung quanh mắt… Đây là triệu chứng điển hình của bệnh đậu gà.

Chi tiết >>


Nguyên tắc điều trị bệnh đường tiêu hóa ở lợn

Bệnh về đường tiêu hoá khá phổ biến trong chăn nuôi lợn, nhất là đối với lợn con. Nếu người nuôi không biết điều trị đúng phương pháp thì tỷ lệ lợn chết cao, gây thiệt hại lớn.

Chi tiết >>


Trừ cỏ ở má luống hành

 Bà con nông dân ở một số địa phương thường hay dùng thuốc Sunrice 15WG để phun phòng trừ cỏ cho má luống hành.

Chi tiết >>


Trừ bệnh sương mai hại cà chua sớm

 Hiện nay, bệnh sương mai đang phá hại mạnh diện tích cà chua sớm

Chi tiết >>


Kỹ thuật chăn nuôi vịt theo hướng nuôi nhốt hoàn toàn

(VietQ.vn) - Chăn nuôi vịt theo mô hình nuôi nhốt hoàn toàn rất tiện lợi lại có kỹ thuật chăn nuôi đơn giản. Tuy nhiên cần tuân thủ đúng các yêu cầu về thức ăn, nước uống, cách chăm sóc để đạt năng suất, chất lượng vịt cao nhất.

Chi tiết >>


Công ty TNHH Một thành viên giống cây trồng Hải Dương đã nghiên cứu ra hai giống lúa NB01 và lúa nếp DT22. Hai giống lúa này ngắn ngày, kháng bệnh tốt và mang lại năng suất cao.

Chi tiết >>


3NTV-VTC16: Làm giàu từ nuôi thỏ ngoại

Chi tiết >>


Khá lên nhờ nuôi dê Boer

 Sau thời gian tìm hiểu, đầu năm 2013, ông Nguyễn Văn Nam ngụ ấp Bưng Cần, xã Bảo Hòa, huyện Xuân Lộc, Đồng Nai đã mạnh dạn đầu tư nuôi 25 con dê giống Boer (Hà Lan). Đến nay, mô hình này đạt hiệu quả kinh tế cao, ông Nam trở thành người thành công đầu tiên khi nuôi giống dê này ở địa phương.

Chi tiết >>


Hạn chế héo xanh cà chua

 Thâm canh cà chua đã phát triển rộng rãi ở nhiều vùng đất trồng màu vùng ĐBSH, song việc khống chế bệnh chết héo xanh đối với nông dân đang là bài toán nan giải. Nhiều nông dân trao đổi, bệnh này diễn ra đột ngột và xóa sổ rất nhanh diện tích cà chua khiến cho họ trở tay không kịp. Cây chết nhiều trong giai đoạn sinh thực (cây đang ra hoa và phát triển quả) khiến cho thiệt hại về năng suất là rất lớn

Chi tiết >>


Kinh nghiệm trồng dưa, bí bò đất

 Với các cây họ bầu bí, vụ đông sớm có quỹ đất rộng, trồng dưa, bí dễ bán lại không phải làm giàn, bảo vệ thực vật dễ dàng hơn, thời gian sinh trưởng của các giống ngắn… nên được nhiều nông dân lựa chọn.


Chi tiết >>


SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HẢI DƯƠNG