SO KHOA HOC CONG NGHE - KIEN THUC NONG NGHIEP
Saturday, October 19, 2019
Kỹ thuật nuôi và vỗ béo trâu thịt   -   Kinh nghiệm thâm canh cây ăn quả có múi   -   Trừ cỏ ở má luống hành   -   Trừ bệnh sương mai hại cà chua sớm   -   Công ty TNHH Một thành viên giống cây trồng Hải Dương đã nghiên cứu ra hai giống lúa NB01 và lúa nếp DT22. Hai giống lúa này ngắn ngày, kháng bệnh tốt và mang lại năng suất cao.   -   3NTV-VTC16: Làm giàu từ nuôi thỏ ngoại   -   Xử lý phèn trong ao mùa mưa   -   Kinh nghiệm nâng cao năng suất và phẩm chất ớt vụ xuân hè   -   Kinh nghiệm nuôi gà thịt hiệu quả   -   Dịch hại cần chú ý vụ hè thu   -   Phòng trị bệnh đầu đen ở gà   -   Phòng bệnh tổng hợp cho cá   -   Một số kinh nghiệm nuôi vịt thả đồng   -   Kỹ thuật trồng, chăm sóc chuối lùn   -   Kỹ thuật trồng ớt ngọt theo hướng an toàn   -   Bệnh thán thư hại khoai sọ   -   Bón phân đón đòng cho lúa chiêm xuân   -   Kỹ Thuật Trồng Nấm Rơm   -   Sử dụng phân bón lá cho lúa   -   Phòng trừ chuột hại lúa xuân   -   Những vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đối với ao nuôi thủy sản   -   Nhện gié hại lúa   -   Nấm đối kháng hạn chế rau màu héo rũ   -   Bệnh héo tươi, héo xanh trên ớt   -   Bệnh loét hại cây có múi và biện pháp phòng trừ   -   Để vườn cam sành lâu cỗi   -   Kỹ thuật trồng cải bắp   -   Bón thúc cho lúa đẻ nhánh ở vụ xuân   -   Khắc phục lúa gieo thẳng chậm ra lá   -   Kinh nghiệm nuôi gà Đông Tảo   -   Nhân giống chuối tiêu hồng bằng công nghệ nuôi cấy mô   -   Chủ động chống rét cho cây trồng, vật nuôi   -   Cần chính sách mới cho thủy sản theo GAP   -   Lưu ý khi nuôi chim trĩ   -   Bệnh đạo ôn   -   Chống rét cho mạ và chăm sóc lúa   -   Cảnh giác thương lái Trung Quốc mua lá khoai lang   -   Trồng và chăm sóc vườn cây ăn quả bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm   -   Khẩn trương chống rét cho mạ và lúa xuân   -   Kỹ thuật nuôi chạch đồng   -   Kỹ thuật diệt chuột   -   Trồng rau trong hộp xốp   -   3 giống hoa đào   -   Quản lý sức khỏe tôm nuôi khi chuyển mùa   -   Chăm củ cải trắng vụ đông   -   Ương dưỡng tôm giống trước khi nuôi   -   Lưu ý khi lưu giữ cá giống qua đông   -   Cho hành lá thêm xanh   -   Nấm bệnh héo rũ hại hành   -   Bệnh héo rũ Panama hại chuối và biện pháp phòng trừ   -   Trồng khổ qua không khó   -   Để nuôi cá chép giống V1 đạt năng suất 2 tấn/ha   -   Tăng cường phòng chống dịch lở mồm long móng   -   Nuôi ong lấy mật - cải thiện kinh tế hộ gia đình   -   Bón phân hợp lý cho cây chè ở miền núi phía Bắc   -   Biện pháp hạn chế hao hụt lươn khi mới thả giống   -   Ủ chua cỏ xanh để nuôi trâu, bò   -   Sản xuất lươn giống   -   Để dưa leo không bị đắng   -   Nhận diện "công nghệ" SX thuốc BVTV giả   -   Nấm sò và kỹ thuật nuôi trồng   -   Chăm sóc rau màu khi gặp thời tiết bất lợi   -   Giảm thiểu tỷ lệ chết héo rũ cho hành vụ đông   -   Quy trình trồng khoai tây bằng phương pháp làm đất tối thiểu có phủ rơm rạ   -   Nấm bệnh hại bí xanh   -   Kinh nghiệm nâng cao năng suất, chất lượng củ đậu thu đông   -   Cách nhận biết bệnh thán thư hại rau màu   -   Chọn giống đu đủ cho nhiều quả   -   Thức ăn có sẵn cho cá nước ngọt   -   Hướng tới công nghệ chăn nuôi không phân   -   Hướng dẫn gieo trồng giống ngô Nếp lai F1 HN88   -   Cách phòng, chống dịch cúm gia cầm   -   Bí quyết nuôi cá trắm đen kiếm lời   -   Tự trồng rau gia vị tại nhà   -   Sản xuất giống cá trắm cỏ chính vụ   -   Một số điểm cần lưu ý trong chăn nuôi thỏ   -   Bệnh nấm phổi trên vịt   -   Một số lưu ý trước khi vào vụ nuôi tôm xuân hè 2013   -   Cách phòng trừ bệnh đạo ôn trên lúa xuân   -   Kỹ thuật trồng hành củ, hành hoa an toàn   -   Lưu ý khi sử dụng vôi và hóa chất cho ao nuôi   -   Đậu tương DT51 có thể trồng 3 vụ/năm   -   Sản xuất thành công khoai tây siêu nguyên chủng   -   Một số biện pháp chủ yếu chăm sóc và bảo vệ lúa chiêm xuân năm 2013   -   Lưu ý bón thúc đẻ nhánh lúa chiêm xuân   -   3 bước chống dịch lợn tai xanh   -   Sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi thỏ   -   Một số biện pháp hạn chế tôm chết trong quá trình thả nuôi   -   Bệnh dịch tả vịt   -   Nuôi cá chạch - Hướng mới nhiều triển vọng   -   Trồng dong riềng xen ngô lãi lớn   -   Chăm sóc lúa xuân đúng cách   -   Kỹ thuật trồng lại đào sau tết   -   Nhiều lưu ý về sản xuất vụ đông xuân   -   Lợn “tên lửa” dễ nuôi, dễ bán   -   Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính trên gia cầm   -   Nuôi bồ câu gà   -   Giống dưa leo Cúc 71   -   Hiện tượng heo cắn đuôi nhau   -   Bí quyết trồng cam đường Canh kiếm tiền Tết   -   Chế phẩm từ vi khuẩn giúp tăng năng suất cây lạc   -   Phòng trừ bọ nhảy ở rau cải   -   Quy trình sản xuất cây bí xanh theo tiêu chuẩn VietGAP   -   Kỹ thuật phòng và trị bệnh trong nuôi trồng thủy sản   -   Những điểm cần lưu ý khi nuôi cá rô đồng   -   Cách nhận biết hải sản bị ngâm ướp urê   -   Kỹ thuật trồng củ cải   -   Nhận biết bệnh cúm gia cầm   -   Làm chuồng úm chống rét cho lợn sữa   -   Cách làm đào nở hoa đúng tết   -   Trồng và chăm sóc rau màu khi rét đậm   -   Cách nhận biết bệnh vi-rút trên rau   -   Hướng dẫn biện pháp diệt chuột   -   Hạn chế mạ chết từng chòm   -   Một số lưu ý khi phân biệt 4 bệnh đỏ ở lợn   -   Những giải pháp đào ao thả cá đầu tư thấp   -   Một số lưu ý để nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi gà   -   Bảo quản và sử dụng vắc xin trong chăn nuôi   -   Khẩn trương cày ải phơi đất   -   Chủ động phòng chống rét cho trâu bò   -   Sử dụng thuốc BVTV theo khuyến cáo   -   Bí quyết phòng trừ phi hóa dịch hại trong vườn   -   Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cà chua   -   Bệnh cúm gia cầm và biện pháp phòng trị   -   Giống đậu tương cao sản DT51   -   Hiệu quả từ nuôi gà nòi chân vàng   -   Chăm sóc, quản lý tôm cá trong mùa rét   -   Phòng và điều trị bệnh nấm phấn đen ở chuối   -   Sản xuất gạo nhân tạo   -   Bệnh hại trên cây khoai tây, cà chua và biện pháp phòng trừ   -   Sâu bệnh hại trên cây dưa chuột và biện pháp phòng trừ   -   Mở rộng sản xuất trà xuân muộn   -   Nuôi trồng, khai thác thủy hải sản   -   Công nghệ sản xuất mạ khay   -   Cách ngăn ngừa dưa chuột đắng   -   Ngăn ngừa ô nhiễm nước và phòng bệnh cho cá   -   40% mẫu gà có dư lượng kháng sinh và chất cấm   -   Ngô không hạt - nguyên nhân và cách khắc phục   -   5 giống đậu tương năng suất cao   -   Bí đỏ dễ trồng, không kén đất   -   Xử lý hạt giống rau trước khi gieo   -   Nuôi trồng thủy sản theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia   -   Nên trồng ngô nếp lai F1 - HN88   -   Gà ri vàng rơm   -   Nhân giống nhanh cây đu đủ   -   Trồng lạc vụ đông bằng phương pháp phủ nylon   -   3 giống bí xanh cho vụ đông   -   Khắc phục hành thối nhũn   -   Bệnh chạy dây bí xanh   -   Nuôi cua lãi hơn trăm triệu   -   Những điểm cần lưu ý khi nuôi cá rô đồng   -   Kỹ thuật nuôi cá chình thương phẩm trong ao   -   Thụ tinh nhân tạo giống gà ri   -   Bí quyết để hoa hồng ra hoa nhiều vào ngày tết   -   Để giá trị khoai lang tăng cao   -   Đã có vacine khống chế virus cúm gia cầm mới   -   Một số lưu ý khi sử dụng vaxin phòng bệnh cho gia súc, gia cầm   -   Phòng và trị bệnh cho động vật thủy sản trong mùa mưa lũ   -   Trồng khoai lang Thu Đông hiệu quả   -   Trồng khoai tây bằng phương pháp làm đất tối thiểu   -   Kỹ thuật nuôi cua đồng   -   Dùng phương pháp cấy mô để nhân giống chuối già lùn   -   Nhân giống khoai tây bằng nuôi cấy mô và công nghệ trồng không cần đất   -   Hướng dẫn sử dụng vắcxin cúm gia cầm đúng cách   -   Điều khiển nhãn ra hoa rải vụ   -   Hỗ trợ đổi mới chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học   -   Trồng cam sành theo hướng sạch, an toàn   -   Cách xử lý bệnh chổi rồng trên nhãn   -   Để bí xanh trái vụ bền cây, sai quả   -   Kỹ thuật trồng cà chua   -   Nuôi ngan thịt chọn giống và chuẩn bị   -   Chi Lăng Nam: Biến tiềm năng thành hiện thực   -   Sẽ có Nghị định về tích tụ ruộng đất   -   Nghị quyết BCH Trung ương lần thứ 7 (khoá x) về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn   -   Cải tiến đàn Bò   -   Kỹ thuật chăm sóc một số hoa Lan   -   CHẠM KHẮC GỖ ĐÔNG GIAO
4:52

KIẾN THỨC NÔNG NGHIỆP

Tin tức hàng ngày

Trồng trọt

Chăn nuôi

Thủy sản

Chế biến, bảo quản NS

Làng nghề

Kỹ thuật mới

Mô hình sản xuất

Thị trường

Chính sách hỗ trợ

Khoa học thưởng thức

Hỏi đáp về KHCN

Video về Nông nghiệp

TÌM KIẾM THÔNG TIN
  

Số lần truy cập
16735217

Triển khai kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn năm 2008

( Thời gian đăng : 16:45:37 24/02/2009 )     

Năm 2008 là năm thứ 3 triển khai kế hoạch 5 năm 2006-2010, năm có vị trí hết sức quan trọng, nhằm tạo đà cho việc thực hiện đạt và vượt kế hoạch 5 năm trước thời hạn. Để các địa phương, các doanh nghiệp và các đơn vị thuộc ngành chủ động triển khai thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu kế hoạch năm 2008, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xin nêu một số kết quả đạt được trong năm 2007 và các chương trình chủ yếu cần triển khai trong năm 2008 như sau:


Năm 2008 là năm thứ 3 triển khai kế hoạch 5 năm 2006-2010, năm có vị trí hết sức quan trọng, nhằm tạo đà cho việc thực hiện đạt và vượt kế hoạch 5 năm trước thời hạn. Để các địa phương, các doanh nghiệp và các đơn vị thuộc ngành chủ động triển khai thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu kế hoạch năm 2008, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xin nêu một số kết quả đạt được trong năm 2007 và các chương trình chủ yếu cần triển khai trong năm 2008 như sau:
Phần thứ nhất: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SẢN XUẤT TOÀN NGÀNH NĂM 2007
Nông nghiệp, nông thôn nước ta triển khai thực hiện kế hoạch năm 2007 với nhiều khó khăn, thuận lợi đan xen lẫn nhau. Thuận lợi cơ bản là tiếp tục nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước cả về chủ trương đường lối và các nguồn lực, hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo nhiều điều kiện cho phát triển nông nghiệp. Khó khăn lớn nhất đối với phát triển nông nghiệp và nông thôn năm 2007 là thời tiết diễn biến phức tạp, vụ Đông xuân ở miền Bắc ấm bất thường, hạn hán, bão, lũ và dịch bệnh trên gia súc, gia cầm, sâu bệnh cây trồng phát sinh trên diện rộng, giá cả vật tư nông nghiệp tăng cao... Tuy nhiên, với những kinh nghiệm tổ chức, quản lý, điều hành, nỗ lực to lớn của cả hệ thống chính trị, bà con nông dân cả nước, nên nông nghiệp và nông thôn nước ta tiếp tục duy trì được tốc độ phát triển theo chiều hướng tích cực.
Năm 2007, tổng sản phẩm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản theo giá thực tế đạt 231.282 tỷ đồng, chiếm 20,23% trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân (sản xuất nông nghiệp 15,18%; lâm nghiệp 1,05% và thủy sản đạt 4%). Theo giá so sánh 1994, tổng sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 82.090 tỷ đồng, tăng 3,4% so với năm 2006, tăng trưởng của toàn ngành đã đóng góp 0,61 điểm phần trăm cho tăng trưởng chung của nền kinh tế.
I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHỦ YẾU VỀ SẢN XUẤT NÔNG, LÂM
NGHIỆP VÀ THỦY SẢN
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ước năm 2007 theo giá so sánh năm 1994 đạt 199.977 tỷ đồng, tăng 4,6% so với năm 2006. Trong đó, nông nghiệp tăng 2,9%; lâm nghiệp tăng 1% và thủy sản tăng 11%.
1. Nông nghiệp
Năm 2007, tuy có nhiều khó khăn về thời tiết, thiên tai, dịch bệnh, nhưng nông nghiệp nước ta tiếp tục có bước chuyển dịch theo hướng đẩy mạnh sản xuất các loại nông sản hàng hóa có nhu cầu của thị trường, có giá trị và hiệu quả.
Trong ngành trồng trọt: năm 2007 tăng trưởng 2,4% so với năm 2006. Tổng sản lượng lương thực cây có hạt đạt 39,98 triệu tấn.
Diện tích gieo trồng lúa cả năm đạt 7,201 triệu ha, giảm 125 ngàn ha so với năm trước. Tuy diện tích lúa giảm nhưng năng suất tăng 1,8% đạt 49,8 tạ/ha nên sản lượng vẫn đạt 35,87 triệu tấn lúa.
Diện tích ngô 1,068 triệu ha, tăng 4%; năng suất trung bình 38,5 tạ/ha, tăng 4,1%; sản lượng 4,1 triệu tấn, tăng 8,2%.
Sản xuất cây công nghiệp lâu năm tăng trưởng khá: Hồ tiêu đạt 90,3 ngàn tấn, tăng 14,4%; Điều đạt 301,9 ngàn tấn, tăng 10,5%; Chè đạt 704,9 ngàn tấn, tăng 8,6%; Cao su đạt 801,7 ngàn tấn, tăng 8,3%. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về khuyến khích phát triển Cao su, nên diện tích năm 2007 đã đạt 549,6 ngàn ha, tăng 27,4 ngàn ha so với năm 2006. Tổng diện tích cây công nghiệp lâu năm đạt trên 1,8 triệu ha, tăng 74,9 ngàn ha so với năm 2006.
Một số cây ăn quả có nhu cầu của thị trường, nhất là các cây đặc sản có giá trị kinh tế cao phát triển mạnh theo hướng hàng hóa tập trung nên tổng diện tích cây ăn quả năm 2007 ước đạt 775,5 ngàn ha, tăng khoảng 4,1 ngàn ha.
Trong chăn nuôi:mặc dù dịch cúm gia cầm, LMLM, lợn tai xanh diễn ra trên diện rộng, nhưng do chỉ đạo quyết liệt của các cấp các ngành và kinh nghiệm chống dịch nên chăn nuôi tiếp tục phát triển khá, tỷ trọng trong cơ cấu nông nghiệp từ 22% năm 2005 lên 24% năm 2007.
Theo kết quả điều tra ngày 1/8/2007 cả nước có 6,73 triệu con bò, tăng 3,3% so với năm 2006; gần 3 triệu con trâu, tăng 2,6%; 226,0 triệu con gia cầm, tăng 5,3%. Riêng đàn lợn, do giá thức ăn chăn nuôi tăng cao lại bị dịch LMLM, lợn tai xanh xảy ra trên diện rộng nên đàn lợn giảm, đạt 26,6 triệu con, giảm 1,1% so với năm 2006. Sản lượng thịt hơi các loại ước đạt 3,83 triệu tấn, tăng so với năm 2006 khoảng 12,6%.
2. Thủy sản
Năm 2007 kinh tế thủy sản chuyển biến tích cực trên cả hai hướng khai thác và nuôi trồng. Các địa phương đã tập trung phát triển nuôi trồng theo chiều sâu, xác định đối tượng nuôi, phương thức nuôi, quản lý môi trường nuôi phù hợp từng vùng, áp dụng công nghệ nuôi bền vững. Công tác quản lý môi trường và phòng ngừa dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản đã có chuyển biến. Bộ và địa phương chỉ đạo tốt việc tổ chức lại sản xuất trong khai thác hải sản. Do vậy, giá trị sản xuất thủy sản năm 2007 theo giá so sánh năm 1994 ước đạt 46.663 tỷ đồng, tăng 11% so với năm 2006. Trong đó, nuôi trồng 30.181 tỷ đồng, tăng 16,5%; khai thác 16.482 tỷ đồng, tăng 2,1%.
Sản lượng thủy sản cả năm đạt 4,15 triệu tấn, tăng 11,5% so với năm 2006, trong đó nuôi trồng 2,1 triệu tấn, tăng 23,1%; khai thác 2,06 triệu tấn, tăng 1,8%.
Trong năm 2007, cả nước mở thêm 15.600 ha nuôi trồng thủy sản, đưa tổng diện tích đạt khoảng 1,065 triệu ha (kể cả diện tích nuôi trồng thủy sản kết hợp với trồng lúa khoảng 65.600 ha).
Bộ đã chỉ đạo gắn khai thác hải sản với dự báo ngư trường, sắp xếp lại khai thác hải sản với xây dựng đội tổ khai thác hải sản, tăng cường quản lý, thông tin tàu thuyền. Nhiều mô hình sản xuất theo tổ, đội đã được thử nghiệm như Đà Nẵng, Bình Định, Quảng Nam... cho kết quả tốt, tăng hiệu quả sản xuất. Giữa các tàu đã có thể hỗ trợ, giúp nhau khi gặp khó khăn, tai nạn trên biển.
Các Viện nghiên cứu, Trung tâm quan trắc và cảnh báo môi trường thực hiện khảo sát, phân tích, dự báo môi trường Ở các vùng nuôi trọng điểm, giúp ngư dân và người nuôi chọn thời điểm thả giống, kịp thời xử lý môi trường nước, hạn chế dịch bệnh phát sinh.
3. Lâm nghiệp
Trong năm 2007 tiếp tục thực hiện chương rình xã hội hoá công tác bảo vệ và phát triển rừng. Năm 2007, giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá so sánh 1994 ước đạt 6.503 tỷ đồng, tăng 1,0% so với năm 2006. Trồng rừng tập trung 202,6 ngàn ha, tăng 1,0%, trong đó rừng sản xuất 165 nghìn ha; khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung rừng 969,3 ngàn ha, tăng 1,2%; khoán quản lý bảo vệ rừng 1,52 triệu ha; khai thác 3,26 triệu m3 gỗ, tăng 2,2%, trong đó 80% là khai thác từ rừng trồng.
Diện tích rừng cả nước năm 2007 ước đạt gần 12,85 triệu ha, tăng 311 ngàn ha so với 2006, nâng tỷ lệ che phủ rừng từ 37,9% năm trước lên 38,8% năm 2007.
Về kiểm lâm, đã triển khai đưa trên 4.000 kiểm lâm viên về phụ trách địa bàn, giúp chính quyền địa phương bảo vệ rừng tốt hơn. Hướng dẫn các địa phương thực hiện tốt công tác phòng chống cháy rừng mùa khô và phát triển nghề rừng trên lâm phần được giao. Thường xuyên thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát bán buôn động vật, thực vật hoang dã, quản lý chặt chẽ gây nuôi, trồng cấy nhân tạo động vật, thực vật hoang dã, hạn chế tình trạng khai thác từ tự nhiên. Công tác phòng chống cháy rừng, tổ chức tập huấn nghiệp vụ, tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nhân dân, kiện toàn, nâng cao năng lực cho hệ thống kiểm lâm, có kế hoạch chủ động ngay từ đầu năm.
Về công tác chống chặt phá rừng, đã được các cấp chính quyền địa phương tập trung chỉ đạo, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc tại các điểm nóng về khai thác rừng, phá rừng trái phép. Do đó, số vụ vi phạm lâm luật giảm so với năm 2006. Trong năm đã xẩy ra 32.156 vụ vi phạm lâm luật, giảm 6.034 vụ; trong đó 1.063 vụ phá rừng, giảm 165 vụ; phá rừng làm rẫy 2.141 vụ, giảm 995 vụ; khai thác lâm sản trái phép 3.708 vụ, giảm 331 vụ, có 988 vụ vi phạm về quản lý động vật hoang dã.
Về cháy rừng trong năm xảy ra 749 vụ, tăng so với năm 2006 là 216 vụ, với tổng diện tích thiệt hại 4.188 ha.
4. Diêm nghiệp và công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản, ngành nghề nông thôn
4.1. Về sản xuất muối
Do được giá muối ngay từ đầu năm nên bà con diêm dân đã mở thêm diện tích sản xuất muối. Theo báo cáo của các địa phương diện tích muối cả nước năm 2007 đạt 12.240 ha, tăng 7% và sản lượng ước đạt 900 nghìn tấn, tăng 12% so với năm 2006.
4.2. Về sản xuất công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản
Công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản có bước phát triển khá, tỷ trọng công nghiệp và địch vụ trong cơ cấu kinh tế nông thôn tăng dần, ước tính năm 2007 đạt khoảng trên 40%.
Trong năm 2007, phần lớn các cơ sở công nghiệp chế biến đã quan tâm đến đầu tư vùng nguyên liệu, tăng cường công tác xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ. Các cơ sở công nghiệp chế biến thuỷ sản tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp, mở rộng, đổi mới trang thiết bị theo hướng nâng cao chất lượng và đa dạng hoá sản phẩm, hiện có 245/470 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vào thị trường EU. Theo đánh giá của các địa phương tốc độ tăng giá trị sản lượng công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản đạt 15%. Riêng giá trị sản xuất công nghiệp khu vực dân doanh tăng 27,4%.
Hầu hết các khâu sản xuất, chế biến nông, lâm, muối, thủy sản, xây dựng các công trình thuỷ lợi đều được cơ giới hoá, nhiều khâu tỷ lệ cơ giới hoá khá cao. Đến năm 2007 tỷ lệ cơ giới hóa khâu tưới tiêu nước trên 85%, làm đất trên 70%, tuốt lúa trên 83,6%, phát triển mạnh máy gặt đập liên hợp phục vụ thu hoạch lúa ĐBSCL, vận chuyển 75%, xay xát 95%, tổng công suất tàu thuyền đánh bắt đạt trên 4 triệu mã lực, các khâu thi công các công trình thuỷ lợi đã được cơ giới hoá 100%.
5. Đầu tư phát triển thuỷ lợi phục vụ thâm canh, nâng cao chất lượng sản phẩm nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Năm 2007 Nhà nước ưu tiên đặc biệt cho đầu tư phát triển thuỷ lợi, ngoài nguồn vốn ngân sách theo kế hoạch hàng năm, được cân đối bố trí gần 3 nghìn tỷ đồng từ nguồn trái phiếu Chính phủ. Đồng thời, trong những năm vừa qua kiên quyết thực hiện chủ trương tập trung hoàn thành dứt điểm các công trình dở dang đưa vào khai thác; các địa phương cũng dồn sức cho các công trình thuỷ lợi. Do đó, năm 2007 đưa được 12 công trình vào khai thác. Nhờ vậy, năm 2007 diện tích lúa được tưới đạt khoảng 6,85 triệu ha, vượt kế hoạch 200 nghìn ha; diện tích rau màu và cây công nghiệp 1 ,49 triệu ha; đảm bảo tiêu thoát nước cho 1,71 triệu ha đất nông nghiệp; ngăn mặn 0,87 triệu ha, cải tạo chua phèn 1,6 triệu ha; góp.phần đáng kể vào việc tăng năng suất, sản lượng và chất lượng các loại cây trồng.
Về việc triển khai thực hiện công tác đê điều và phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai. Tập trung chỉ đạo đôn đốc các tỉnh, thành phố Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa khẩn trương khôi phục, sửa chữa đê biển bị hư hại do mưa bão năm 2006 và đã hoàn thành trước mùa mưa bão. Năm 2007, triển khai thực hiện kế hoạch tu bổ đê với 25 dự án, được giao 160 tỷ đồng, kết quả thực hiện đào đắp được 1,92 triệu m3 đất, 40 nghìn m3 bê tông, khoan phụt vữa gia cố đê 14,4 km. Thực hiện kế hoạch duy tu bảo dưỡng đê thường xuyên được triển khai trên 19 tỉnh, thành phố, thực hiện được: đất đào đắp 210.000 m3, bê tông 11.000 m3, trồng tre chắn sóng 30.000 cụm,...
Đôn đốc các địa phương xử lý khẩn cấp một số kè bị sạt lở nghiêm trọng hoàn thành trước mùa mưa lũ bằng nguồn vốn sự nghiệp như: kè Kim Sơn (Hải Phòng), kè Cống Chùa (Nam Định), kè Vĩnh Linh - Vĩnh Lộc (Thanh Hoá).
Tiến hành rà soát lại quy hoạch thuỷ lợi trong toàn quốc; quy hoạch hệ thống thuỷ lợi phục vụ nuôi trồng thuỷ sản; quy hoạch thủy lợi kiểm soát lũ cho TP.Hồ Chí Minh. Phối hợp với các Bộ, Ngành xây dựng Quy trình vận hành các hồ chứa đáp ứng đa mục tiêu. Xây dựng thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định 254/2007/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 143/2003/NĐ-CP, trong đó có việc thực hiện miễn thuỷ lợi phí và quản lý công lính thuỷ lợi sau khi miễn thuỷ lợi phí cho nông dân.
II. TIÊU THỤ NÔNG, LÂM, THỦY SẢN
1. Thị trường nông lâm sản trong nước khá thuận lợi
Năm 2007, nhìn chung việc tiêu thụ nông sản hàng hóa trên thị trường trong nước khá thuận lợi. Giá đa số các loại nông sản ở mức khá cao, có lợi cho người sản xuất. Tại vùng ĐBSCL, giá lúa đạt 3.500 - 3.800đ/kg; vùng ĐBSH, giá lúa đạt 3.800 - 4.500 đ/kg. Giá cao su, cà phê, tiêu, điều, chè, lạc, đậu tương, các loại quả, sản phẩm thuỷ sản và sản phẩm chăn nuôi đều ở mức cao. Phần nhiều doanh nghiệp đã triển khai tốt việc ký kết hợp đồng tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản,... với nông dân; các hợp tác xã, tổ hợp tác đã thực hiện tốt việc dịch vụ về tiêu thụ sản phẩm cho xã viên.
2. Về xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản
Xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản năm 2007 tăng mạnh so với năm 2006. Tổng kim ngạch cả năm ước đạt 12.5 tỷ USD, tăng 20,6% so với năm 2006 (nông, lâm sản 8,7 tỷ USD, thủy sản 3,8 tỷ USD), vượt mục tiêu đề ra cho năm 2010 là 1,5 tỷ USD.
Kết quả cụ thể một số mặt hàng chủ yếu như sau:
- Gạo đạt 4,5 triệu tấn, kim ngạch 1,46 tỷ USD; giảm 3,1% về lượng và tăng 13,9% về giá trị so với năm 2006.
- Cà phê: đạt 1,2 triệu tấn, kim ngạch 1,86 tỷ USD; tăng 21,8% về lượng và 52,3% về giá trị.
- Cao su: đạt 719 ngàn tấn; kim ngạch 1,4 tỷ USD, tăng 1,6% về lượng và 8,8% về giá trị.
- Hạt điều: đạt 153 ngàn tấn; kim ngạch 649 triệu USD; tăng 20,4% về lượng và 28,9% về giá trị.
- Chè: đạt 114 ngàn tấn, kim ngạch 131 triệu USD; tăng 7,8% về lượng và 18,4% về giá trị.
- Rau quả: kim ngạch đạt 299 triệu USD, tăng 15,4%.
- Hạt tiêu: đạt 86 ngàn tấn, kim ngạch 282 triệu USD; về lượng giảm 26,6%, nhưng tăng về giá trị tới 47,8%.
- Sản phẩm gỗ: kim ngạch đạt 2,364 tỷ USD, tăng 22,3%.
- Sản phẩm mây, tre, thảm: kim ngạch đạt 218 triệu USD, tăng 13,6%.
- Thuỷ sản: kim ngạch đạt 3,8 tỷ USD, tăng 12,9%.
III. VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
- Công nghiệp, ngành nghề và dịch vụ, nhất là làng nghề truyền thống có bước phát triển nhanh. Hiện cả nước có 2.197 làng nghề, với khoảng 1,423 triệu hộ (theo tiêu chí mỗi làng có trên 20% số hộ làm nghề), thu hút trên 1,5 triệu lao động. Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm thủ công mỹ nghệ của làng nghề tăng từ 235 triệu USD năm 2001 lên 700 triệu USD năm 2007.
- Quan hệ sản xuất tiếp tục được đổi mới: Kinh tế hộ có bước phát triển, quy mô được mở rộng, hiện có 83 nghìn hộ sản xuất theo hình thức trang trại; năm 2007 thành lập mới được 200 HTX, đưa số HTX đến năm 2007 cả nước có 8.320 HTX hoạt đồng trong lĩnh vực nông nghiệp. Nông lâm trường quốc doanh và doanh nghiệp nhà nước đang được sắp xếp lại theo hướng chuyển mạnh sang công ty cổ phần và nâng cao năng lực của doanh nghiệp nhà nước.
- Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được tiếp tục đầu tư phát triển, nhất là về thủy lợi. Đồng thời hệ thống các cơ sở hạ tầng giao thông, điện, nước ở các vùng nông thôn cũng đã được cải thiện rõ rệt, tới năm 2006 đã có 99% số xã, 92,8% số thôn có điện và tỷ lệ hộ nông thôn sử dụng điện đã lên tới 93,3%; 96,7% số xã có đường ôtô tới khu trung tâm, trong đó 42,6% số xã có đường liên thôn được trải nhựa, bê tông hoá trên 50%.
- Về quy hoạch và điều chỉnh dân cư: Tổng kết 15 năm (1990 - 2005) công tác tái định cư các dự án thuỷ điện lớn; triển khai các dự án di dân khẩn cấp; đôn đốc các địa phương xây dựng dự án quy hoạch bố trí dân cư đến năm 2010. Trong năm 2007 được Nhà nước giao 550 tỷ đồng, trong đó 400 tỷ cho đầu tư phát triển và 150 tỷ đồng sự nghiệp kinh tế. Các địa phương đã tập trung thực hiện bố trí lại dân cư tại các vùng có nguy cơ cao về thiên tai (sạt, lở, lũ quét, lũ ống,...) và những vùng đặc biệt khó khăn (thiếu đất sản xuất, thiếu nước, cơ sở hạ tầng,...). Trong năm đã thực hiện bố trí dân cư cho 15.000 hộ. Triển khai lập các dự án ổn định dân cư các xã biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia. Hướng dẫn các địa phương tổng hợp tình hình, xây dựng dự án thực hiện nhiệm vụ di dân khẩn cấp ở những vùng bị thiên tai, các vườn quốc gia, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Chỉ đạo các địa phương thực hiện các biện pháp ổn định dân cư, hạn chế di cư tự do, nhất là các tỉnh trọng điểm Lào Cai, Hà Giang, Bắc Cạn, Lai Châu, Tuyên Quang.
- Về công tác di dân Thuỷ điện Sơn La: đã phê duyệt quy hoạch chi tiết 66 khu với 185 điểm, dung nạp 15.569/19.669 hộ đạt 79% số hộ phải di dời. Tổ chức thống kê đền bù, lập phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư (bao gồm các hộ tái định cư và hộ sở tại bị ảnh hưởng) là 22.548 hộ; đã di chuyển được 8.468/19.669 hộ đạt 43% số hộ phải di chuyển; các tỉnh đã giải ngân 1.804/3.681 tỷ đồng, đạt 49% kế hoạch giao 3 năm 2004, 2005 và 2006.
- Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường đã đạt được những kết quả khả quan: Đã đầu tư nâng cấp, sửa chữa và xây dựng mới được khoảng 260.000 công trình cấp nước, trong đó có khoảng 1.800 công trình cấp nước tập trung, nâng tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đến cuối năm 2007 đạt khoảng 70%. Đã làm mới được khoảng 500.000 nhà tiêu hợp vệ sinh, nâng tỷ lệ hộ gia đình nông thôn có sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh đạt khoảng 51%.
- Tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn năm 2006 còn 18% theo tiêu chí mới, ước năm 2007 còn khoảng 16%. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê về Tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn và thuỷ sản, năm 2006 thu nhập bình quân một hộ nông thôn đạt 26,1 triệu đồng, tăng 11,3 triệu đồng (tăng 75,8%) so với năm 2002; ước năm 2007 đạt khoảng 29-30 triệu đồng/hộ/năm.
IV. ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
Năm 2007, nguồn vốn XDCB nhà nước giao cho Bộ quản lý là 5.417,47 tỷ đồng (Bộ Nông nghiệp và PTNT cũ quản lý 5.183,97 tỷ đồng, Bộ Thuỷ sản cũ quản lý 233,5 tỷ đồng), trong đó:
Vốn trong nước: 1.493,27 tỷ đồng
Vốn ngoài nước: 933,2 tỷ đồng
Vốn trái phiếu Chính phủ: 2.991,0 tỷ đồng
Kết quả thực hiện cả năm đạt 5.414 tỷ đồng, trong đó :
Ngân sách tập trung đạt 2.829 tỷ đồng, đạt 117% KH gồm:
Thuỷ lợi: thực hiện 1.932 tỷ đồng, đạt 151% KH
Nông nghiệp: thực hiện 229 tỷ đồng, đạt 77% KH
Lâm nghiệp: thực hiện 292 tỷ đồng, đạt 139% KH
Thuỷ sản: thực hiện 214,2 tỷ đồng, đạt 91,7% KH
Các ngành khác: Ước thực hiện khối KHCN đạt 97%; Giáo dục 106%; Chương trình mục tiêu 75%; Thiết kế QH 100; Chuẩn bị đầu tư 117%.
Trái phiếu Chính phủ thực hiện được 2.585 tỷ đồng, đạt 86% KH.
Nhìn một cách tổng quát năm 2007, tuy có nhiều khó khăn, nhưng vẫn duy trì được tốc độ phát triển khá, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, xuất khẩu tăng mạnh, nông thôn tiếp tục phát triển toàn diện, đời sống đa số bà con nông dân tiếp tục được cải thiện, một số chỉ tiêu đã về trước kế hoạch năm 2010 như diện tích cao su, cà phê, khoanh nuôi tái sinh rừng, khai thác thuỷ sản, giá trị kim ngạch xuất khau nông, lâm, thuỷ sản.
Những yếu kém và tồn tại:
Năm 2007, nông nghiệp và nông thôn đạt được nhiều kết quả khá khả quan, nhưng trước những yêu cầu mới đang đặt ra cho nông nghiệp, nông thôn nước ta, một số vấn đề cần phải tiếp tục quan tâm xử lý, đó là:
- Việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn còn chậm. Một số cây trồng, vật nuôi lại phát triển quá nóng, gây tác động xấu tới môi trường và khó bền vững như phát triển trồng sắn, nuôi cá tra.
- Việc thực hiện chủ trương nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nông, lâm, thủy sản chưa được nhiều.
- Vệ sinh an toàn thực phẩm là một vấn đề gây bức xúc trong dư luận xã hội.
- Phát triển cơ sở hạ tầng ở nhiều vùng nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao cuộc sống của người dân, nhất là ở các vùng miền núi. Trong khi đó, giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản chậm, đặc biệt là vốn trái phiếu Chính phủ (chỉ đạt 86% kế hoạch năm).
- Quá trình đổi mới các hình thức sản xuất chuyển biến chậm. Đầu tư tư nhân vào khu vực nông nghiệp, nông thôn còn ít. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp năm 2007 chưa đến 1% so với tổng vốn FDI của cả nước.
- Đời sống một bộ phận nông dân còn nhiều khó khăn, chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa nông thôn và thành thị vẫn còn lớn.
- Tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng chưa có giải pháp hữu hiệu để khắc phục.
- Nhiệm vụ cải cách hành chính thực hiện chưa được nhiều, nhất là đơn giản hóa các thủ tục, đổi mới tài chính công. Công tác xây dựng và ban hành văn bản QPPL về cơ bản được triển khai toàn diện, nhưng kết quả chưa cao, tiến độ chậm so với kế hoạch, chất lượng chưa cao. Việc thực hiện Luật phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí tuy có một số kết quả bước đầu song vẫn còn nhiều tồn tại, nhiều nơi mang tính hình thức.
Phần thứ hai: TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN NĂM 2008
Một số mục tiêu chủ yếu:
1. Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng nông, lâm, thủy sản 3,5-4% (trong đó nông nghiệp trên 3%, lâm nghiệp 1,5%, thủy sản 13%); giá trị sản lượng nông, lâm, thủy sản tăng 4,7-4,9%.
2. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Trồng trọt 63%, chăn nuôi 27%, ngành nghề và dịch vụ khác 10%.
3. Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản 13,62 tỷ USD.
4. Khoán bảo vệ rừng 2,2 triệu ha, khoanh nuôi tái sinh rừng 740 ngàn ha, trồng rừng tập trung 250 ngàn ha, trong đó trồng rừng sản xuất 200 ngàn ha, chăm sóc rừng trồng 220 ngàn ha, tỷ lệ che phủ rừng 40%.
5. Sản lượng thủy sản 4,6 triệu tấn.
6. Sản lượng muối 1,1 triệu tấn.
7. Tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch 75%.
Nhiệm vụ năm 2008 được nhà nước giao rất nặng nề, đòi hỏi phải có sự tập trung chỉ đạo hết sức quyết liệt của toàn ngành để thực hiện cho được những mục tiêu đề ra, góp phần vào phát triển kinh tế chung của đất nước và cải thiện đời sống nông dân. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2008 là tập trung vào đảm bảo thực hiện mục tiêu tăng trưởng; đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống của nhân dân; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, đào tạo nguồn nhân lực; cải cách thể chế và hành chính; thực hiện nghiêm túc hai Luật Phòng chống tham nhũng và Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Nhiệm vụ cụ thể là:
I. TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG CỦA NGÀNH
I.1 Các chương trình phát triển
1. Chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi gắn với xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh.
1.1. Về trồng trọt
Về sản xuất lương thực: Đối với lúa gạo, diện tích hàng năm có thể giảm do chuyển đổi mục đích sử dụng cho công nghiệp và đô thị hóa, vì vậy năm 2008 giữ khoảng 7,2 triệu ha, năng suất trên 50 tạ/ha, sản lượng 36,4 triệu tấn, tăng 500 ngàn tấn so với năm 2007. Tập trung giải quyết tốt khâu giống, bố trí cơ cấu giống, mùa vụ né tránh sâu bệnh và thời tiết xấu.
Phổ biến các giống ngô mới có năng suất cao, hình thành các vùng sản xuất tập trung. Dự kiến năm 2008 diện tích ngô khoảng 1,1 triệu ha, tăng 32 ngàn ha, chủ yếu tăng vụ Đông ở vùng ĐBSH, Bắc Trung Bộ, ngô xuân trên đất 1 vụ ở miền núi phía Bắc.
Về phát triển các cây công nghiệp: Ổn định 506 ngàn ha cà phê; tiếp tục trồng mới 30 nghìn ha cao su ở nơi có đủ điều kiện về đất đai, khí hậu và cơ sở hạ tầng, để có 630 ngàn ha cao su vào năm 2008; ổn định diện tích chè 125 ngàn ha, thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm; trồng mới 10 ngàn ha điều để có 447 nghìn ha; hạt tiêu giữ quy mô như hiện nay 48 nghìn ha; 255 nghìn ha lạc, đưa diện tích mía lên 320 nghìn ha, bố trí 207 ngàn ha đậu tương.
Phát triển rau hoa và cây ăn quả: Trong năm tới tiến hành quy hoạch vùng trồng cây ăn quả tập trung; triển khai thực hiện quy trình sản xuất GAP đối với các cây ăn quả chủ lực, có lợi thế. Dự kiến năm 2008 diện tích cây ăn quả khoảng 800 nghìn ha.
Đầu tư phát triển các vùng rau sản xuất tập trung theo công nghệ sạch, rau chất lượng cao, an toàn vệ sinh thực phẩm. Phát triển măng, nấm, hoa, cây cảnh cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Trước mắt tập trung chỉ đạo việc gieo sạ hết diện tích lúa Đông xuân ở các tỉnh phía Nam; thu hoạch vụ Đông và chuẩn bị các điều kiện cho gieo cấy lúa đông xuân ở các tỉnh phía Bắc; gieo trồng các cây hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày vụ Xuân.
Chỉ đạo hệ thống bảo vệ thực vật từ Trung ương đến địa phương theo dõi sát tình hình thời tiết, cơ cấu cây trồng, lịch thời vụ để làm tốt công tác dự tính sâu bệnh, phấn đấu dự báo sớm 15-20 ngày, thông tin kịp thời cho nông dân. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chỉ đạo công tác phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng, bảo vệ tốt các vụ sản xuất, không để xảy ra dịch hại nặng trên diện rộng, nhất là các đối tượng: Rầy nâu, vàng lùn-lùn xoắn lá, bệnh đạo ôn, dịch hại trên cây hồ tiêu, cà phê,...
Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan quản lý chặt chẽ nguồn hàng nhập khẩu thuộc diện kiểm dịch thực vật; làm tốt công tác kiểm dịch nội địa.
Tăng cường công tác quản lý nhà nước về thuốc bảo vệ thực vật nhập khẩu, gia công, sản xuất kinh doanh và sử dụng tại Việt Nam; kiểm soát chặt chẽ dư lượng thuốc BVTV trên các mặt hàng nông sản.
Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến bảo vệ thực vật, kiểm dịch thực vật, thuốc bảo vệ thực vật; thực hiện kế hoạch thanh, kiểm tra chuyên ngành BVTV và chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm.
1.2 Về Chăn nuôi
Phát triển chăn nuôi theo hướng: hiệu quả, bền vững và an toàn thực phẩm, đảm bảo tốc độ tăng trưởng năm 2008 đạt 9,4%. Tổng sản lượng thịt hơi các loại năm 2008 đạt 4,18 triệu tấn, tăng 9,1%; sữa tươi 282 nghìn tấn, tăng 14%; thức ăn chăn nuôi đạt gần 9 triệu tấn, tăng 17,5%.
Trên cơ sở Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020, các địa phương tiến hành quy hoạch lại việc tổ chức chăn nuôi trên địa bàn. Quy hoạch các khu chăn nuôi, khuyến khích các hộ, cá nhân mở rộng quy mô sản xuất lớn và vừa theo hình thức gia trại, trang trại, nuôi công nghiệp được đảm bảo các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh, gắn với các cơ sở giết mổ, chế biến tập trung và xử lý chất thải.
Quy hoạch và bố trí diện tích sản xuất cây thức ăn; hướng dẫn người chăn nuôi sử dụng các giống cỏ mới năng suất chất lượng cao, chế biến và dự trữ thức ăn cho mùa khô.
Thường xuyên kiểm tra và tạo điều kiện cho các cơ sở công nghiệp chế biến thức ăn gia súc hoạt động hết công suất, giảm giá thành, đảm bảo chất lượng cung ứng đủ cho nhu cầu phát triển chăn nuôi.
Trước mắt, ngành chăn nuôi tiến hành ngay việc hướng dẫn nông dân áp dụng các biện pháp chăm sóc đàn gia súc, gia cầm trong mùa đông và sau tết Nguyên đán, chủ động tiêm phòng các loại dịch bệnh.
Rút kinh nghiệm của hai năm 2006, 2007, năm 2008 tập trung chỉ đạo thực hiện một số biện pháp phòng trừ dịch bệnh gia súc, gia cầm và thủy sản:
- Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, hướng dẫn nông dân các biện pháp phòng dịch.
- Các địa phương xây dựng và thực hiện kế hoạch phòng chống dịch bao gồm kế hoạch về tài chính, về tổ chức lực lượng, tập trung cho việc giám sát dịch bệnh và tiêm phòng vắc xin. Tổ chức giám sát tới hộ chăn nuôi xử lý triệt để, nhanh gọn các ổ dịch phát sinh.
- Triển khai các biện pháp đổi mới chăn nuôi, thủy sản, nhất là đối với đàn vịt; quy hoạch vùng chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản tập trung, vùng sản xuất giống, tổ chức giết mổ gia súc, gia cầm tập trung, thực hiện kiểm soát giết mổ đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng.
- Tăng cường mạng lưới thú y cơ sở theo quy định của Pháp lệnh Thú y; đào tạo, tập huấn cho lực lượng này có đủ khả năng phát hiện và xử lý ổ dịch.
- Tập trung quản lý việc ấp nở thủy cầm theo Quyết định số 1405/QĐ-TTg ngày 16/10/2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể về điều kiện ấp trứng gia cầm và chăn nuôi thủy cầm, kiên quyết không để việc ấp nở vịt tràn lan, đóng cửa các lò ấp không đủ điều kiện, kiểm tra các cơ sở quản lý con giống, quản lý được đàn vịt đưa ra khỏi lò, vịt chạy đồng.
- Các địa phương xây dựng và thực hiện kế hoạch tiêm phòng cụ thể bao gồm: cung cấp vắc xin và dụng cụ phục vụ tiêm, lực lượng tiêm, kinh phí tiêm; giao nhiệm vụ chủ đạo của công tác tiêm phòng cho chính quyền cơ sở, tổ chức kiểm tra giám sát chặt chẽ công tác tiêm phòng. Thường xuyên tổ chức việc tiêu độc, khử trùng ở các khu vực buôn bán giết mổ gia cầm và các cơ sở chăn nuôi; kiểm tra chất lượng giống thủy sản, môi trường vùng nuôi.
- Kiểm soát ở biên giới: Ủy ban nhân dân các tỉnh có biên giới tổ chức lực lượng, kết hợp với các Bộ, ngành liên quan kiểm tra gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập lậu, tổ chức tiêu hủy gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập lậu.
- Kiểm soát vận chuyển trong nước: Xử phạt và tiêu hủy gia cầm, sản phẩm gia cầm vận chuyển không có giấy chứng nhận kiểm dịch, không để số gia cầm, sản phẩm gia cầm này vận chuyển quay về.
2. Chương trình phát triển thủy sản theo hướng hiệu quả và bền vững
Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng và đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững. Triển khai thực hiện Chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững, trở thành ngành sản xuất hàng hóa lớn cung cấp nguyên liệu cho chế biến, xuất khẩu.
Triển khai ngay dự án điều tra nguồn lợi hải sản biển là cơ sở để thực hiện Chương trình khai thác hải sản có hiệu quả gắn với bảo vệ và tái tạo nguồn lợi, an toàn cho ngư dân. Tổ chức tốt việc tuyên truyền, phổ biến các quy định, pháp luật của các nước liên quan cho ngư dân, chủ yếu là các thuyền trưởng, chủ tàu làm nghề khai thác hải sản, nhất là các tàu khai thác xa bờ. Nhanh chóng đưa hệ thống quản lý thông tin tàu cá trên biển (giai đoạn I) vào hoạt động và xây dựng Dự án quản lý thông tin tàu cá trên biển (giai đoạn II) trên cơ sở hiện đại hóa để phục vụ công việc theo dõi hoạt động của tàu cá trên biển và công tác phòng chống thiên tai.
Cơ cấu lại ngành nghề và ngư trường, phổ biến áp dụng công nghệ phù hợp để giảm giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả khai thác. Sử dụng có hiệu quả cơ sở hạ tầng đã hoàn thành và xây dựng mới phục vụ khai thác và nuôi trồng thủy sản, nhất là hệ thống thủy lợi, các khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá, các cảng cá, chợ cá.
Tiếp tục thực hiện chương trình đầu tư cơ sở hạ tầng về xây dựng các khu trú bão cho ngư dân và tàu thuyền. Có phương án quản lý và thông tin cho các tàu thuyền ra khơi đánh cá để giảm thiểu thiệt hại do bão gây ra.
Dự kiến tổng sản lượng năm 2008 đạt 4,6 triệu tấn, tăng gần 10% so với năm 2007 (vượt mục tiêu năm 2010); trong đó sản lượng nuôi trồng 2,6 triệu tấn, tăng 13,8%; sản lượng khai thác 2,0 triệu tấn.
3. Chương trình phát triển lâm nghiệp
Năm 2008 tiếp tục triển khai mạnh mẽ chủ trương xã hội hóa ngành lâm nghiệp, nâng cao năng lực quản lý bảo vệ rừng, đẩy nhanh tiến độ thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, khuyến khích đầu tư trồng rừng sản xuất và lâm đặc sản, chế biến lâm sản. Tiếp tục hoàn chỉnh việc rà soát quy hoạch 3 loại rừng, triển khai thực hiện việc xác định mốc các loại rừng trên thực địa theo phương án đã được duyệt. Hướng dẫn cơ sở chuyển đổi và quản lý chặt chẽ diện tích rừng phòng hộ sang rừng sản xuất theo quy hoạch. Triển khai thực hiện các cơ chế chính sách phát triển rừng theo Quyết định 100 của Thủ tướng Chính phủ, nhất là chính sách hỗ trợ lương thực để dân bảo vệ và trồng rừng sản xuất. Chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật về trồng rừng, đảm bảo đủ giống có chất lượng cho nông dân và các tổ chức trồng rừng.
Theo hướng đó, năm 2008 ngành lâm nghiệp thực hiện khoán bảo vệ rừng phòng hộ và đặc dụng 2,2 triệu ha, chăm sóc rừng đã trồng 220 nghìn ha, khoanh nuôi tái sinh rừng 740 nghìn ha, trồng mới 250 nghìn ha (trong đó rừng sản xuất 200 nghìn ha, rừng phòng hộ và đặc dụng 50 nghìn ha).
Triển khai hệ thống quản lý bền vững tài nguyên rừng có sự tham gia của người dân. Triển khai tích cực công tác giao rừng, thuê đất rừng cho các hộ gia đình và cộng đồng địa phương với chính sách hưởng lợi phù hợp.
Thực hiện có hiệu quả chương trình quản lý canh tác nương rẫy.
Nâng cao năng lực kiểm lâm, c

Trung tâm Khuyến nông (NTT sưu tầm)

 

Các bài mới nhất

-  Đã có vacine khống chế virus cúm gia cầm mới
-  Hỗ trợ đổi mới chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học
-  Hỗ trợ để nông dân không bỏ GAP
-  Phê duyệt Đề án phát triển ngành trồng trọt
-  Hỗ trợ việc áp dụng Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt
-  Điều chỉnh quy hoạch tổng thể ngành nông nghiệp
-  Khuyến khích tư nhân nghiên cứu KHCN trong nông nghiệp
-  Hỗ trợ nông dân có lợn mắc bệnh "tai xanh" phải tiêu hủy
-  Tại sao bảo hộ giống cây trồng còn khiêm tốn
-  Quyết định số 673 của Thủ tướng Chính phủ: Tăng cường năng lực cho Hội Nông dân
 
 
BÀI VIẾT TIÊU BIỂU

Cách trị bệnh đậu gà

Hiện nay, thời tiết khô hanh, trên đàn gà xuất hiện các mụn bằng hạt đỗ mọc ở mào, xung quanh mắt… Đây là triệu chứng điển hình của bệnh đậu gà.

Chi tiết >>


Nguyên tắc điều trị bệnh đường tiêu hóa ở lợn

Bệnh về đường tiêu hoá khá phổ biến trong chăn nuôi lợn, nhất là đối với lợn con. Nếu người nuôi không biết điều trị đúng phương pháp thì tỷ lệ lợn chết cao, gây thiệt hại lớn.

Chi tiết >>


Trừ cỏ ở má luống hành

 Bà con nông dân ở một số địa phương thường hay dùng thuốc Sunrice 15WG để phun phòng trừ cỏ cho má luống hành.

Chi tiết >>


Trừ bệnh sương mai hại cà chua sớm

 Hiện nay, bệnh sương mai đang phá hại mạnh diện tích cà chua sớm

Chi tiết >>


Kỹ thuật chăn nuôi vịt theo hướng nuôi nhốt hoàn toàn

(VietQ.vn) - Chăn nuôi vịt theo mô hình nuôi nhốt hoàn toàn rất tiện lợi lại có kỹ thuật chăn nuôi đơn giản. Tuy nhiên cần tuân thủ đúng các yêu cầu về thức ăn, nước uống, cách chăm sóc để đạt năng suất, chất lượng vịt cao nhất.

Chi tiết >>


Công ty TNHH Một thành viên giống cây trồng Hải Dương đã nghiên cứu ra hai giống lúa NB01 và lúa nếp DT22. Hai giống lúa này ngắn ngày, kháng bệnh tốt và mang lại năng suất cao.

Chi tiết >>


3NTV-VTC16: Làm giàu từ nuôi thỏ ngoại

Chi tiết >>


Khá lên nhờ nuôi dê Boer

 Sau thời gian tìm hiểu, đầu năm 2013, ông Nguyễn Văn Nam ngụ ấp Bưng Cần, xã Bảo Hòa, huyện Xuân Lộc, Đồng Nai đã mạnh dạn đầu tư nuôi 25 con dê giống Boer (Hà Lan). Đến nay, mô hình này đạt hiệu quả kinh tế cao, ông Nam trở thành người thành công đầu tiên khi nuôi giống dê này ở địa phương.

Chi tiết >>


Hạn chế héo xanh cà chua

 Thâm canh cà chua đã phát triển rộng rãi ở nhiều vùng đất trồng màu vùng ĐBSH, song việc khống chế bệnh chết héo xanh đối với nông dân đang là bài toán nan giải. Nhiều nông dân trao đổi, bệnh này diễn ra đột ngột và xóa sổ rất nhanh diện tích cà chua khiến cho họ trở tay không kịp. Cây chết nhiều trong giai đoạn sinh thực (cây đang ra hoa và phát triển quả) khiến cho thiệt hại về năng suất là rất lớn

Chi tiết >>


Kinh nghiệm trồng dưa, bí bò đất

 Với các cây họ bầu bí, vụ đông sớm có quỹ đất rộng, trồng dưa, bí dễ bán lại không phải làm giàn, bảo vệ thực vật dễ dàng hơn, thời gian sinh trưởng của các giống ngắn… nên được nhiều nông dân lựa chọn.


Chi tiết >>


SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HẢI DƯƠNG