SO KHOA HOC CONG NGHE - KIEN THUC NONG NGHIEP
Wednesday, September 18, 2019
Kỹ thuật nuôi và vỗ béo trâu thịt   -   Kinh nghiệm thâm canh cây ăn quả có múi   -   Trừ cỏ ở má luống hành   -   Trừ bệnh sương mai hại cà chua sớm   -   Công ty TNHH Một thành viên giống cây trồng Hải Dương đã nghiên cứu ra hai giống lúa NB01 và lúa nếp DT22. Hai giống lúa này ngắn ngày, kháng bệnh tốt và mang lại năng suất cao.   -   3NTV-VTC16: Làm giàu từ nuôi thỏ ngoại   -   Xử lý phèn trong ao mùa mưa   -   Kinh nghiệm nâng cao năng suất và phẩm chất ớt vụ xuân hè   -   Kinh nghiệm nuôi gà thịt hiệu quả   -   Dịch hại cần chú ý vụ hè thu   -   Phòng trị bệnh đầu đen ở gà   -   Phòng bệnh tổng hợp cho cá   -   Một số kinh nghiệm nuôi vịt thả đồng   -   Kỹ thuật trồng, chăm sóc chuối lùn   -   Kỹ thuật trồng ớt ngọt theo hướng an toàn   -   Bệnh thán thư hại khoai sọ   -   Bón phân đón đòng cho lúa chiêm xuân   -   Kỹ Thuật Trồng Nấm Rơm   -   Sử dụng phân bón lá cho lúa   -   Phòng trừ chuột hại lúa xuân   -   Những vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đối với ao nuôi thủy sản   -   Nhện gié hại lúa   -   Nấm đối kháng hạn chế rau màu héo rũ   -   Bệnh héo tươi, héo xanh trên ớt   -   Bệnh loét hại cây có múi và biện pháp phòng trừ   -   Để vườn cam sành lâu cỗi   -   Kỹ thuật trồng cải bắp   -   Bón thúc cho lúa đẻ nhánh ở vụ xuân   -   Khắc phục lúa gieo thẳng chậm ra lá   -   Kinh nghiệm nuôi gà Đông Tảo   -   Nhân giống chuối tiêu hồng bằng công nghệ nuôi cấy mô   -   Chủ động chống rét cho cây trồng, vật nuôi   -   Cần chính sách mới cho thủy sản theo GAP   -   Lưu ý khi nuôi chim trĩ   -   Bệnh đạo ôn   -   Chống rét cho mạ và chăm sóc lúa   -   Cảnh giác thương lái Trung Quốc mua lá khoai lang   -   Trồng và chăm sóc vườn cây ăn quả bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm   -   Khẩn trương chống rét cho mạ và lúa xuân   -   Kỹ thuật nuôi chạch đồng   -   Kỹ thuật diệt chuột   -   Trồng rau trong hộp xốp   -   3 giống hoa đào   -   Quản lý sức khỏe tôm nuôi khi chuyển mùa   -   Chăm củ cải trắng vụ đông   -   Ương dưỡng tôm giống trước khi nuôi   -   Lưu ý khi lưu giữ cá giống qua đông   -   Cho hành lá thêm xanh   -   Nấm bệnh héo rũ hại hành   -   Bệnh héo rũ Panama hại chuối và biện pháp phòng trừ   -   Trồng khổ qua không khó   -   Để nuôi cá chép giống V1 đạt năng suất 2 tấn/ha   -   Tăng cường phòng chống dịch lở mồm long móng   -   Nuôi ong lấy mật - cải thiện kinh tế hộ gia đình   -   Bón phân hợp lý cho cây chè ở miền núi phía Bắc   -   Biện pháp hạn chế hao hụt lươn khi mới thả giống   -   Ủ chua cỏ xanh để nuôi trâu, bò   -   Sản xuất lươn giống   -   Để dưa leo không bị đắng   -   Nhận diện "công nghệ" SX thuốc BVTV giả   -   Nấm sò và kỹ thuật nuôi trồng   -   Chăm sóc rau màu khi gặp thời tiết bất lợi   -   Giảm thiểu tỷ lệ chết héo rũ cho hành vụ đông   -   Quy trình trồng khoai tây bằng phương pháp làm đất tối thiểu có phủ rơm rạ   -   Nấm bệnh hại bí xanh   -   Kinh nghiệm nâng cao năng suất, chất lượng củ đậu thu đông   -   Cách nhận biết bệnh thán thư hại rau màu   -   Chọn giống đu đủ cho nhiều quả   -   Thức ăn có sẵn cho cá nước ngọt   -   Hướng tới công nghệ chăn nuôi không phân   -   Hướng dẫn gieo trồng giống ngô Nếp lai F1 HN88   -   Cách phòng, chống dịch cúm gia cầm   -   Bí quyết nuôi cá trắm đen kiếm lời   -   Tự trồng rau gia vị tại nhà   -   Sản xuất giống cá trắm cỏ chính vụ   -   Một số điểm cần lưu ý trong chăn nuôi thỏ   -   Bệnh nấm phổi trên vịt   -   Một số lưu ý trước khi vào vụ nuôi tôm xuân hè 2013   -   Cách phòng trừ bệnh đạo ôn trên lúa xuân   -   Kỹ thuật trồng hành củ, hành hoa an toàn   -   Lưu ý khi sử dụng vôi và hóa chất cho ao nuôi   -   Đậu tương DT51 có thể trồng 3 vụ/năm   -   Sản xuất thành công khoai tây siêu nguyên chủng   -   Một số biện pháp chủ yếu chăm sóc và bảo vệ lúa chiêm xuân năm 2013   -   Lưu ý bón thúc đẻ nhánh lúa chiêm xuân   -   3 bước chống dịch lợn tai xanh   -   Sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi thỏ   -   Một số biện pháp hạn chế tôm chết trong quá trình thả nuôi   -   Bệnh dịch tả vịt   -   Nuôi cá chạch - Hướng mới nhiều triển vọng   -   Trồng dong riềng xen ngô lãi lớn   -   Chăm sóc lúa xuân đúng cách   -   Kỹ thuật trồng lại đào sau tết   -   Nhiều lưu ý về sản xuất vụ đông xuân   -   Lợn “tên lửa” dễ nuôi, dễ bán   -   Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính trên gia cầm   -   Nuôi bồ câu gà   -   Giống dưa leo Cúc 71   -   Hiện tượng heo cắn đuôi nhau   -   Bí quyết trồng cam đường Canh kiếm tiền Tết   -   Chế phẩm từ vi khuẩn giúp tăng năng suất cây lạc   -   Phòng trừ bọ nhảy ở rau cải   -   Quy trình sản xuất cây bí xanh theo tiêu chuẩn VietGAP   -   Kỹ thuật phòng và trị bệnh trong nuôi trồng thủy sản   -   Những điểm cần lưu ý khi nuôi cá rô đồng   -   Cách nhận biết hải sản bị ngâm ướp urê   -   Kỹ thuật trồng củ cải   -   Nhận biết bệnh cúm gia cầm   -   Làm chuồng úm chống rét cho lợn sữa   -   Cách làm đào nở hoa đúng tết   -   Trồng và chăm sóc rau màu khi rét đậm   -   Cách nhận biết bệnh vi-rút trên rau   -   Hướng dẫn biện pháp diệt chuột   -   Hạn chế mạ chết từng chòm   -   Một số lưu ý khi phân biệt 4 bệnh đỏ ở lợn   -   Những giải pháp đào ao thả cá đầu tư thấp   -   Một số lưu ý để nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi gà   -   Bảo quản và sử dụng vắc xin trong chăn nuôi   -   Khẩn trương cày ải phơi đất   -   Chủ động phòng chống rét cho trâu bò   -   Sử dụng thuốc BVTV theo khuyến cáo   -   Bí quyết phòng trừ phi hóa dịch hại trong vườn   -   Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cà chua   -   Bệnh cúm gia cầm và biện pháp phòng trị   -   Giống đậu tương cao sản DT51   -   Hiệu quả từ nuôi gà nòi chân vàng   -   Chăm sóc, quản lý tôm cá trong mùa rét   -   Phòng và điều trị bệnh nấm phấn đen ở chuối   -   Sản xuất gạo nhân tạo   -   Bệnh hại trên cây khoai tây, cà chua và biện pháp phòng trừ   -   Sâu bệnh hại trên cây dưa chuột và biện pháp phòng trừ   -   Mở rộng sản xuất trà xuân muộn   -   Nuôi trồng, khai thác thủy hải sản   -   Công nghệ sản xuất mạ khay   -   Cách ngăn ngừa dưa chuột đắng   -   Ngăn ngừa ô nhiễm nước và phòng bệnh cho cá   -   40% mẫu gà có dư lượng kháng sinh và chất cấm   -   Ngô không hạt - nguyên nhân và cách khắc phục   -   5 giống đậu tương năng suất cao   -   Bí đỏ dễ trồng, không kén đất   -   Xử lý hạt giống rau trước khi gieo   -   Nuôi trồng thủy sản theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia   -   Nên trồng ngô nếp lai F1 - HN88   -   Gà ri vàng rơm   -   Nhân giống nhanh cây đu đủ   -   Trồng lạc vụ đông bằng phương pháp phủ nylon   -   3 giống bí xanh cho vụ đông   -   Khắc phục hành thối nhũn   -   Bệnh chạy dây bí xanh   -   Nuôi cua lãi hơn trăm triệu   -   Những điểm cần lưu ý khi nuôi cá rô đồng   -   Kỹ thuật nuôi cá chình thương phẩm trong ao   -   Thụ tinh nhân tạo giống gà ri   -   Bí quyết để hoa hồng ra hoa nhiều vào ngày tết   -   Để giá trị khoai lang tăng cao   -   Đã có vacine khống chế virus cúm gia cầm mới   -   Một số lưu ý khi sử dụng vaxin phòng bệnh cho gia súc, gia cầm   -   Phòng và trị bệnh cho động vật thủy sản trong mùa mưa lũ   -   Trồng khoai lang Thu Đông hiệu quả   -   Trồng khoai tây bằng phương pháp làm đất tối thiểu   -   Kỹ thuật nuôi cua đồng   -   Dùng phương pháp cấy mô để nhân giống chuối già lùn   -   Nhân giống khoai tây bằng nuôi cấy mô và công nghệ trồng không cần đất   -   Hướng dẫn sử dụng vắcxin cúm gia cầm đúng cách   -   Điều khiển nhãn ra hoa rải vụ   -   Hỗ trợ đổi mới chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học   -   Trồng cam sành theo hướng sạch, an toàn   -   Cách xử lý bệnh chổi rồng trên nhãn   -   Để bí xanh trái vụ bền cây, sai quả   -   Kỹ thuật trồng cà chua   -   Nuôi ngan thịt chọn giống và chuẩn bị   -   Chi Lăng Nam: Biến tiềm năng thành hiện thực   -   Sẽ có Nghị định về tích tụ ruộng đất   -   Nghị quyết BCH Trung ương lần thứ 7 (khoá x) về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn   -   Cải tiến đàn Bò   -   Kỹ thuật chăm sóc một số hoa Lan   -   CHẠM KHẮC GỖ ĐÔNG GIAO
6:37

KIẾN THỨC NÔNG NGHIỆP

Tin tức hàng ngày

Trồng trọt

Chăn nuôi

Thủy sản

Chế biến, bảo quản NS

Làng nghề

Kỹ thuật mới

Mô hình sản xuất

Thị trường

Chính sách hỗ trợ

Khoa học thưởng thức

Hỏi đáp về KHCN

Video về Nông nghiệp

TÌM KIẾM THÔNG TIN
  

Số lần truy cập
16667188

Hồ sơ thị trường rau hoa quả Đông Nam Á

( Thời gian đăng : 23:04:05 02/03/2009 )     

Đông Nam Á là một khu vực thuộc Châu Á, rộng khoảng 4 triệu km², bao gồm 11 quốc gia: Brunei, Camphuchia, Đông Timor, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanma, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam. 

A. Những nét khái quát về thị trường Đông Nam Á

Đông Nam Á là một khu vực thuộc Châu Á, rộng khoảng 4 triệu km², bao gồm 11 quốc gia: Brunei, Camphuchia, Đông Timor, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanma, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam.  Đông Nam Á là khu vực giao điểm của nhiều mảng địa chất, do đó hoạt động núi lửa và động đất phát triển mạnh. Các quốc gia của khu vực được chia ra làm hai nhóm chính: Myanma, Thái Lan, Campuchia, Lào và Việt Nam nằm ở Đông Nam Á lục địa, còn gọi bán đảo Đông Dương. Trong khi đó các nước còn lại tạo nên quần đảo Malaysia. Quần đảo này được hình thành bởi nhiều cung đảo thuộc về vành đai núi lửa Thái Bình Dương và là một trong những khu vực có hoạt động núi lửa mạnh nhất thế giới.Dưới đây là một số thông tin cơ bản của những thị trường tiêu biểu trong khu vực ASEAN.
Thái Lan
Thủ đô: Bangkok
Diện tích: 514.000 km² trong đó 38% đất nông nghiệp và 20% là rừng.
Dân số: 65.444.371 người (năm 2005)
Kinh tế: Thái Lan là một nước nông nghiệp truyền thống. Những năm 1970 Thái thực hiện chính sách "hướng về xuất khẩu" và ASEAN, Mỹ, Nhật, Châu Âu là thị trường xuất khẩu chính của Thái Lan. Ngành công nghiệp và dịch vụ đã dần dần đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, còn ngành nông nghiệp đang giảm dần vai trò của nó. Từ năm 1988 đến năm 1995, kinh tế Thái Lan đạt tốc độ tăng trưởng cao từ 8% đến 10%. Nhưng đến năm 1996 tăng trưởng kinh tế giảm xuống còn 5,9%. Sau đó là cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ tháng 7 năm 1997, kinh tế Thái Lan rơi vào tình trạng khó khăn trầm trọng. Mãi đến năm 1999 kinh tế nước này mới bắt đầu có dấu hiệu phục hồi và nay đang tiếp tục thực hiện quá trình phát triển kinh tế nhằm hướng tới sự phát triển bền vững. Tăng trưởng GDP của nước này năm 1999 đạt 4,4%; năm 2000 đạt 4,6%, năm 2001 đạt 1,8%, năm 2002 đạt 5,2% và năm 2003 đạt 6,7%. Đồng baht của Thái là đồng tiền tương đối ổn định. Dự trữ ngoại tệ ở mức cao 37-38 tỉ USD (tháng 8/1997 ở mức 800 triệu USD).
Malaysia
Thủ đô: Kuala Lumpur
Diện tích: 329.758 km²
Dân số: 26.207.102 người (năm 2005)
Khí hậu/Thời tiết: Khí hậu nhiệt đới, mưa nhlều. Ở miền tây có lượng mưa tới 2.500 mm. Lượng mưa thay đổi theo mùa hơn là thay đổi theo nhiệt độ. Gió mùa đông bắc từ tháng 10 đến tháng 2 và gió mùa tây nam từ tháng 5 đến tháng 9 đem theo nhiều mưa ở Malaysia
Kinh tế: Công nghiệp chiếm 46%, nông nghiệp chiếm12% và dịch vụ chiếm 42% GDP của Malaysia. Sản xuất cao su, dầu lửa và thiếc là những ngành kinh tế truyền thống của Malaysia, nhưng vào những năm 1980, cả ba mặt hàng này đều bị sụt giá trên thị trường thế giới. Dầu cọ, hồ tiêu, ca cao và ngô cũng là những mặt hàng quan trọng. Ở Malaysia khoảng 1/3 lực lượng lao động ở trong ngành nông nghiệp, trong đó phần lớn là lao động trồng lúa. Các ngành công nghiệp chủ yếu là cao su, thiếc, gỗ, ngành dệt, cơ khí và xi măng. Chính phủ Malaysia đặc biệt quan tâm đầu tư cho quá trình công nghiệp hoá. Ngành du lịch nước này cũng phát triển rất mạnh. Từ năm 1987, Malaysia là nước đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối nhanh. Nhưng kể từ tháng 7 năm 1997, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á nên nền kinh tế nước này lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, năm 1998 tăng trưởng chỉ đạt 6%. Tuy nhiên, nhờ kịp thời đưa ra những biện pháp hữu hiệu, kinh tế Malaysia đã có dấu hiệu phục hồi, sáu tháng đầu năm 1999 tăng trưởng đạt l,5%; dự trữ ngoại tệ 31,2 tỷ USD. Xuất khẩu đạt 83,5 tỷ USD, nhập khẩu 61,5 tỷ USD; nợ nước ngoài còn 43,6 tỷ USD.
Philippine
Thủ đô: Manila
Diện tích: 300.000 km2 (hạng71)
Dân số: 87.857.473 (hạng 12)
Khí hậu/Thời tiết: là nước có khí hậu nóng ẩm, nhiệt đới. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 26,5°C. Có ba mùa: Tag-init hay Tag-araw (từ tháng 3 đến tháng 5 là những tháng nóng), Tag-ulan (từ tháng 6 đến tháng 11 là thời gian thường có mưa) và Taglamig (tháng 12 đến tháng 2 là những tháng lạnh). Đa số các vùng đảo ở đây thường có mưa rào nhiệt đới và núi lửa. Điểm cao nhất là núi Apo ở Mindanao cao 2.954 m. Có nhiều núi lửa đang hoạt động như núi Mayon, núi Pinatubo và núi lửa Taal. Nước này cũng nằm bên trong vành đai bão tây Thái Bình Dương, hàng năm phải chịu khoảng 19 cơn bão.
Kinh tế: Mặc dù đã có thời kỳ Phillipine trở thành một siêu cường kinh tế lớn thứ 2 châu Á sau Nhật Bản, nhưng đến năm 1946 sau khi giành được độc lập nước này đã bị tàn phá rất nặng nề từ chiến tranh và trở thành nước nghèo nhất trong khu vực. Những năm đầu thập niên 80, tình hình kinh tế Phillipines rơi vào tình trạng suy sụp nghiêm trọng khi nhu cầu trong nước sụt giảm, Mỹ thu hẹp đầu tư vào đây. Nạn tham nhũng và quá trình tư bản hoá ở các nước láng giềng cũng đã rút ruột 10% GNP nước này. Quá trình phục hồi kinh tế của Phillipine đã diễn ra khá mạnh mẽ, nhưng so với các nước Đông Á khác, tốc độ này vẫn còn chậm. GDP/người của Philippines đứng hàng 118 trong tổng số 178 nước. Trong giai đoạn khủng hoảng tài chính Châu Á lên đến mức đỉnh điểm, nền kinh tế Phillipne bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng, giá cả tăng cao cùng với những tác động của thiên tai và lũ lụt đã tàn phá nặng nền kinh tế nước này. Tăng trưởng kinh tế giảm từ 5% năm 1997 xuống 0.6% năm 1998. Đến năm 2004 GDP nước này đã phục hồi mạnh mẽ và đạt mức 6%. Chính phủ Philippine cam kết sẽ tiếp tục quá trình cải cách kinh tế để đạt mục tiêu tăng trưởng tương đương với các nước công nghiệp mới ở Đông Á. Tuy nhiên, với tình trạng nợ nước ngoài chiếm tới 77%GDP chắc chắn sẽ là một cản trở lớn ảnh hưởng đến nỗ lực cải thiện nền kinh tế của Phillipines. Ngân sách mà nước này dùng để trả nợ còn cao hơn ngân sách cho giáo dục và quốc phòng cộng lại. 
Singapore
Từ Singapore bắt nguồn từ Singapura (đảo sư tử) do ông Stamtford Raffles-người phát hiện ra hòn đảo này đặt tên. Hiện nay, Singapore là một trong những nước giàu có nhất thế giới, hoạt động thương mại quốc tế phát triển mạnh. Các hải cảng của nước này là những cảng đông đúc nhất thế giới và GDP trên đầu người cao hơn nhiều nước đứng đầu Tây Âu.
Thủ đô: Singapore
Diện tích: 647,5 km2( Mặt đất: 637,5 km2; Mặt nước: 10km2) (hạng 175)
Dân số: : 4.425.720 (hạng 118) (Ước lượng năm 2005)
Ngôn ngữ: Tiếng Trung Quốc (chính thức), tiếng Malaysia (chính thức và là quốc ngữ), tiếng Tamil (chính thức) và tiếng Anh (chính thức).
Khí hậu/Thời tiết: là nước có khí hậu nhiệt đới, nóng, ẩm, mưa; Có 2 loại gió mùa riêng biệt-gió mùa đông bắc từ tháng 12 đến tháng 3 và gió mùa tây nam từ tháng 6 đến tháng tháng 9.
Kinh tế: Singapore là một nền kinh tế thị trường tự do và phát triển nhanh, một môi trường kinh doanh mở cửa và không có tham nhũng, giá cả ổn đinh, GDP trên đầu người cao thứ 5 thế giới. Điện tử, hoá chất và dịch vụ là những ngành đầu tàu của nền kinh tế. Năm 2000 nền kinh tế nước này đạt tỷ lệ tăng trưởng 10,1%. Có được mức tăng trưởng này chủ yếu là do những đóng góp trong hoạt động xuất khẩu mà đặc biệt là xuất khẩu mặt hàng điện tử. Tuy nhiên, sang năm 2001 tỷ lệ tăng trưởng chỉ còn ở mức 4% - 6% do cầu thế giới giảm, đặc biệt là nhu cầu từ Mỹ. Chính phủ Singapore đang khuyến khích tiết kiệm và đầu tư thông qua chính sách tiết kiệm bắt buộc và đầu tư chủ yếu vào giáo dục và công nghệ. Nhà nước cũng nắm quyền kiểm soát các công ty có quan hệ với chính phủ (GLCs) - đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất - những công ty này hoạt động như các pháp nhân thương mại. Với mục tiêu hướng đến toàn cầu hoá trong tương lai nên Singapore phấn đấu đạt đặt mục tiêu trở thành trung tâm tài chính và công nghệ cao của khu vực. Singapore là quốc gia hầu như không có tài nguyên, nguyên liệu đều phải nhập từ bên ngoài. Họ có rất ít than chì, nham thạch, đất sét; không có nước ngọt. Nền nông nghiệp của Singapore chưa phát triển, diện tích đất canh tác hẹp và chủ yếu dành để trồng cao su, dừa, rau và cây ăn quả. Hàng năm nước này phải nhập khẩu lượng lớn lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu trong nước. Nhưng bù lại nước này có cơ sở hạ tầng và một số ngành công nghiệp phát triển cao hàng đầu châu Á và thế giới như: cảng biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu, công nghiệp lọc dầu, chế biến và lắp ráp máy móc tinh vi. Nền kinh tế Singapore chủ yếu dựa vào buôn bán và dịch vụ (chiếm 40% thu nhập quốc dân), Singapore cũng được coi là nước đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức. Lực lượng lao động nước này là 2,1 triệu người phân bố trong ngành tài chính, thương mại, và các ngành dịch vụ khác 35%, sản xuất 21%, xây dựng 13%, giao thông liên lạc 9%, tỷ lệ lao động trong ngành nông nghiệp là rất thấp. Nông sản chủ yếu là cao su, cùi dừa khô, hoa quả, phong lan, rau tươi, gia cầm, trứng, cá và cá cảnh.
Indonesia
Thủ đô: Jakarta
Diện tích: 1.919.440 km2 (hạng 15)
Dân số: 241.973.879 (hạng 4)(năm 2005)
Kinh tế: Indonesia là nước đang phát triển. Nông nghiệp (gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp) chiếm 18,9% GDP (thống kê năm 1998) và 41,2% lao động (thống kê năm 1997). Công nghiệp chế biến chiếm 26,2% GDP và 12,9% lao động. Thương mại chiếm 14,9% GDP và 19,8% lao động. Tài chính chiếm 8,2% GDP và 0,7% lao động. GNP/đầu người là 640 USD (1998). Các sản phẩm nông nghiệp chính là lúa, sắn, ngô, cọ dầu, cao su. Xuất khẩu năm 1997 đạt 53,4436 tỉ USD (trong đó dầu thô 10,3%, khí đốt 9,1%, gỗ dán 8,6%, may mặc 5,4%, cao su 3,7%). Các đối tác chiến lược của Indonesia gồm Nhật Bản chiếm 23,4%, Hoa kỳ 13,4%, Singapore 10,2% và Hà Lan 3,4%.
Indonesia là nước giầu tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản, đất đai phì nhiêu, khí hậu thuận lợi. Indonesia đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế một phần nhờ sự giúp đỡ của các nước phương Tây trong tổ chức liên chính phủ về Indonesia (CGI) cũng nhu việc thực hiện thành công chính sách mở cửa rộng rãi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Indonesia là nước có diện tích và dân số lớn nhất trong ASEAN với tiềm năng phát triển kinh tế mạnh mẽ nên đây được xem là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam. Một số mặt hàng Việt Nam còn nhiều cơ hội xuất sang Indonesia như: gạo, dầu thô, chè, lạc nhân, hàng nông sản, hàng điện tử, than đá … Cơ cấu hàng xuất khẩu của Inđônêxia tương đối giống cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam. Trong số 15 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, trừ 2 mặt hàng là gạo và thịt lợn, 13 mặt hàng còn lại cũng là những sản phẩm mà Indonesia đang đẩy mạnh xuất khẩu, trong đó có 8 mặt hàng đặc biệt ưu tiên trùng với Việt Nam như: dệt may, giày dép,sản phẩm cơ khí, điện, đồ gỗ, hàng thủ công mỹ nghệ, thủy sản, sản phẩm nhựa, chất dẻo, cà phê. Phần lớn hàng xuất khẩu là nguyên liệu và nông sản, tỷ lệ hàng công nghiệp và sản phẩm chế biến còn tương đối thấp. Thị trường hai nước Việt Nam – Indonesia khá tương đồng nhau, không phải là thị trường bổ sung cho nhau.
B. Thị trường rau hoa quả của các nước thuộc khối ASEAN.
Trong số các nước ASEAN, Thái Lan đứng hàng thứ 8 và Malaysia nằm cuối danh sách 10 nước xuất khẩu lớn nhất thế giới. Tỷ trọng xuất khẩu của Thái Lan là 2,1%, của Malaysia là 1,7% tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản thế giới với giá trị tương ứng là 16,27 tỷ và 13,13 tỷ USD. Đây đồng thời cũng là hai nước xuất khẩu rau hoa quả lớn của ASEAN.
1) Thái Lan
Hiện nay trong số các quốc gia Đông Nam Á, Thái Lan được coi là nước xuất khẩu mạnh các mặt hàng nông sản trong đó có rau hoa quả. Nông sản của Thái Lan chủ yếu xuất sang: Nhật Bản (tỷ trọng chiếm 19%); kế đến là thị trường Mỹ chiếm 16%; Singapore là 6%; Trung Quốc 5%; Malaysia 5%; Đài Loan là 4% và các nước khác chiếm 45%.
Ngành nông nghiệp Thái Lan đã và đang là ngành chủ chốt trong nền kinh tế, thu hút sự quan tâm đầu tư của Chính phủ đặc biệt là sau thời điểm thủ tướng Thái Lan ngài Thaksin Shinawatra nhậm chức vào tháng 2/2001. Chính phủ đang nỗ lực đảm bảo công bằng cho mọi người dân thông qua ba dự án đầy tham vọng: (1)hoãn nợ cho nông dân trong 3 năm, (2) tài trợ một triệu bạt cho mỗi làng trong cả nước, (3) chương trình mỗi địa phương, một sản phẩm.Trong năm 2003 kim ngạch xuất khẩu của Thái Lan đạt mức 13 tỉ USD.
1.1 Mặt hàng rau quả xuất khẩu chủ lực của Thái Lan
Sản lượng các cây trồng chính niên vụ 2001-2002 của Thái Lan
 
Cây trồng
Sản lượng ( triệu tấn)
Lúa vụ chính
19,56
Lúa vụ hai
4,9
Mía đường
54,35
Cao su
2,44
Sắn Tapioca
17,8
Dứa
1,96
Dầu cọ
3,73
Cà phê
0,075
Ngô
4,42
Nguồn: Trung tâm Thống kê Nông nghiệp, Phòng Kinh tế Nông nghiệp
Dứa
Trong năm 2001, ngành dứa của Thái Lan đã có những bước tiến đáng kể nhưng đây cũng là năm giá cả mặt hàng này giảm khá mạnh, chỉ ở mức 2,02 baht/kg nguyên nhân là do nguồn cung dư thừa và giá trị xuất khẩu hạn chế do quy định của luật thuế chống bán phá giá từ Mỹ, Canada và Úc. Sang năm 2002, sản xuất dứa của Thái Lan có vẻ chững lại nguyên nhân là do nguồn cung dứa tươi trong năm nay thấp. Lượng dứa tươi trên thị trường Thái Lan năm 2002 hạn chế do tình trạng dư thừa xảy ra trong năm 2001 đã khiến người nông dân giảm diện tích trồng dứa. Tháng 3/2001 là thời điểm giá dứa tươi tụt xuống mức thấp kỷ lục1.32 baht/kg, giá nguyên liệu thô giảm đã khiến nhiều người trồng dứa ngừng sản xuất. Thời tiết cũng là một nhân tố quan trọng làm giảm sản lượng dứa tươi. Theo số liệu thống kê, diện tích trồng dứa của Thái Lan giai đoạn 2000-2001 là 610.552 ha. Đến giai đoạn 2001-2002 diện tích tăng 9,5% đạt 552.456 ha.Tuy nhiên đến giai đoạn 2002-2003 diện tích đã giảm tới 10.1% chỉ còn 496.482 ha. Khu vực trồng dứa lớn nhất của Thái lan là Prachuap Khiri Khan (274.780 ha năm 2001-2002; nhưng đến giai đoạn 2002-2003 đạt 216.549 ha tăng12,25%) kế điến là Rayong (55,426 ha năm 2002/1003) and Chonburi (28,523 ha năm 2002/1003). Diện tích trồng dứa giảm nên đã hạn chế nguồn cung. Tổng sản lượng dứa năm 2000/2001 đạt 2,2 triệu tấn nhưng đến năm 2001/2002 chỉ còn ở mức 1,9 triệu tấn, năm 2002/2003 đạt mức 1.7 triệu tấn giảm 1,64% . Sản lượng trên mỗi ha trong năm 2002/2003 giảm 6,92% so với năm 2002/2003 (từ mức 3582 kg xuống còn 3334 kg).
Bảng thống kê giá dứa tại nhà máy
Đơn vị baht/kg
 
Năm
 
T1
 
T2
 
T3
 
T4
 
T5
 
T6
 
T7
 
T8
 
T9
 
T10
 
T11
 
T12
Giá TB
Giá TB (99-01)
3,20
3,40
3,26
3,22
3,01
2,81
3,07
3,33
3,02
2,77
2,26
2,20
3,60
 
2000
1,41
1,69
1,82
2,05
1,84
1,31
1,48
2,83
3,47
3,02
2,04
1,58
1,98
 
2001
1,47
1,32
1,28
1,44
1,53
1,96
2,75
3,00</

Trung tâm TTKHCN và Tin học Hải Dương

 

Các bài mới nhất

-  Xoài cát chu VN vào Nhật
-  Cơ hội xuất khẩu trái cây đền thị trường khó tính
-  Một số phương pháp nhận biết phân bón kém chất lượng
-  Cảnh giác thương lái Trung Quốc mua lá khoai lang
-  Vì sao Việt Nam phải nhập cỏ?
-  Giúp nông dân nhận thức về nền kinh tế thị trường
-  Phát triển thương mại nông thôn: Học cách mua bán hiện đại
-  Đóng gói và nhãn mác các mặt hàng lương thực, thực phẩm
 

Các bài trước

-  Năm 2007 giá vải thiều Lục Ngạn xuống thấp kỷ lục, tại sao?
-  Từ ngày 01/3/2009 tăng giá điện
-  Rau Hà Nội sau lụt
 
BÀI VIẾT TIÊU BIỂU

Cách trị bệnh đậu gà

Hiện nay, thời tiết khô hanh, trên đàn gà xuất hiện các mụn bằng hạt đỗ mọc ở mào, xung quanh mắt… Đây là triệu chứng điển hình của bệnh đậu gà.

Chi tiết >>


Nguyên tắc điều trị bệnh đường tiêu hóa ở lợn

Bệnh về đường tiêu hoá khá phổ biến trong chăn nuôi lợn, nhất là đối với lợn con. Nếu người nuôi không biết điều trị đúng phương pháp thì tỷ lệ lợn chết cao, gây thiệt hại lớn.

Chi tiết >>


Trừ cỏ ở má luống hành

 Bà con nông dân ở một số địa phương thường hay dùng thuốc Sunrice 15WG để phun phòng trừ cỏ cho má luống hành.

Chi tiết >>


Trừ bệnh sương mai hại cà chua sớm

 Hiện nay, bệnh sương mai đang phá hại mạnh diện tích cà chua sớm

Chi tiết >>


Kỹ thuật chăn nuôi vịt theo hướng nuôi nhốt hoàn toàn

(VietQ.vn) - Chăn nuôi vịt theo mô hình nuôi nhốt hoàn toàn rất tiện lợi lại có kỹ thuật chăn nuôi đơn giản. Tuy nhiên cần tuân thủ đúng các yêu cầu về thức ăn, nước uống, cách chăm sóc để đạt năng suất, chất lượng vịt cao nhất.

Chi tiết >>


Công ty TNHH Một thành viên giống cây trồng Hải Dương đã nghiên cứu ra hai giống lúa NB01 và lúa nếp DT22. Hai giống lúa này ngắn ngày, kháng bệnh tốt và mang lại năng suất cao.

Chi tiết >>


3NTV-VTC16: Làm giàu từ nuôi thỏ ngoại

Chi tiết >>


Khá lên nhờ nuôi dê Boer

 Sau thời gian tìm hiểu, đầu năm 2013, ông Nguyễn Văn Nam ngụ ấp Bưng Cần, xã Bảo Hòa, huyện Xuân Lộc, Đồng Nai đã mạnh dạn đầu tư nuôi 25 con dê giống Boer (Hà Lan). Đến nay, mô hình này đạt hiệu quả kinh tế cao, ông Nam trở thành người thành công đầu tiên khi nuôi giống dê này ở địa phương.

Chi tiết >>


Hạn chế héo xanh cà chua

 Thâm canh cà chua đã phát triển rộng rãi ở nhiều vùng đất trồng màu vùng ĐBSH, song việc khống chế bệnh chết héo xanh đối với nông dân đang là bài toán nan giải. Nhiều nông dân trao đổi, bệnh này diễn ra đột ngột và xóa sổ rất nhanh diện tích cà chua khiến cho họ trở tay không kịp. Cây chết nhiều trong giai đoạn sinh thực (cây đang ra hoa và phát triển quả) khiến cho thiệt hại về năng suất là rất lớn

Chi tiết >>


Kinh nghiệm trồng dưa, bí bò đất

 Với các cây họ bầu bí, vụ đông sớm có quỹ đất rộng, trồng dưa, bí dễ bán lại không phải làm giàn, bảo vệ thực vật dễ dàng hơn, thời gian sinh trưởng của các giống ngắn… nên được nhiều nông dân lựa chọn.


Chi tiết >>


SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HẢI DƯƠNG