Ảnh hưởng của ô nhiễm nguồn nước tới sản xuất nông nghiệp

 

    

Những năm gần đây, ngành nông nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, việc phát triển vượt bậc từ trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm, làm thủy lợi đến nuôi trồng thủy sản, phát triển các làng nghề…làm môi trường nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tình trạng người dân sử dụng tràn lan thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) và phân bón, phát triển ồ ạt đàn gia súc gia cầm với hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ, thả rông, không kiểm soát được, cùng với sự phát triển của các làng nghề không theo quy hoạch, chất thải kim loại nặng thải ra ao, hồ, kênh, mương như hiện nay đang ở mức báo động. Do vậy, việc tìm ra giải pháp kiểm soát ô nhiễm nước (ÔNN) mặt để phục vụ sản xuất nông nghiệp (SXNN) và đảm bảo sức khỏe của người dân là việc làm hết sức cấp thiết hiện nay.

Hoạt động SXNN đã gây ra nhiều tác động đến môi trường nước mặt. Các vấn đề ô nhiễm môi trường nước đang được quan tâm hiện nay trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn do lạm dụng hóa chất BVTV và phân bón hóa học trong hoạt động chăn nuôi, sản xuất tại các làng nghề chưa có hệ thống thu gom và xử lý chất thải (XLCT).

Hiện nay, việc sử dụng quá nhiều phân bón và hóa chất BVTV, không đúng quy trình gây ô nhiễm môi trường nước tại các lưu vực sông lớn và địa phương có nền kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh như đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long. Nguyên nhân là phân bón và hóa chất BVTV tồn dư trong đất bị rửa trôi theo các dòng chảy mặt và đổ vào các con sông. Với khoảng 70% dân số ở khu vực nông thôn, mỗi năm phát sinh khoảng 7.500 tấn vỏ bao thuốc (BVTV), hầu hết chưa được thu gom, xử lý hợp vệ sinh, xả trực tiếp ra môi trường. Theo số lượng thống kê, riêng năm 2010, khoảng 60 - 65% lượng phân đạm (tương đương 1,77 triệu tấn), 55 - 60% lượng lân (2,07 triệu tấn) và 55 - 60% kali (344 nghìn tấn) tồn dư trong đất.

Nước thải chăn nuôi cũng là vấn đề đáng lo ngại đối với môi trường nước mặt. Hàng năm, ngành chăn nuôi thải ra khoảng 73 triệu tấn chất thải, trong đó chỉ có 30 - 60% chất thải được xử lý, lượng còn lại xả thẳng ra môi trường. Nước ta có 16.700 trang trại chăn nuôi, với 80% được xây dựng trong khu dân cư, trong đó chỉ có khoảng 1.700 cơ sở có hệ thống XLCT, phần lớn đều không có nhà XLCT chăn nuôi theo tiêu chuẩn. Do vậy, chất thải chăn nuôi là một trong những tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước đáng kể.

Vấn đề tương tự cũng xảy ra tại các làng nghề, do quy trình sản xuất thủ công, nhỏ lẻ, phần lớn không có các hệ thống XLNT làm cho môi trường nước xung quanh suy giảm nghiêm trọng, ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng. Tính đến tháng 12/2013, cả nước ta có 288 khu công nghiệp (KCN). Một số KCN có xây dựng hệ thống XLNT tập trung nhưng vì để giảm chi phí nên hầu như không vận hành. Bình quân mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công nghiệp thải ra khoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại khác. Nước thải từ ngành công nghiệp dệt may, giấy và bột giấy thường có độ pH trung bình từ 9 - 11; nhu cầu ôxy sinh hóa (BOD), nhu cầu ôxy hóa học (COD) lên đến 700 mg/1 và 2.500 mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép đã gây ÔNN mặt nặng nề.

Ngoài ra, ÔNN mặt cũng làm thiệt hại nghiêm trọng đến SXNN. Hàng chục ha đất trồng lúa tại khu vực này, sau một thời gian tiếp nhận nguồn nước thải chứa nhiều hóa chất thì hầu như không thể trồng được bất cứ loại cây nào. Xây dựng hệ thống kiểm soát và XLNT ở các làng nghề. Điều tra, đánh giá tình hình ô nhiễm nguồn nước tại các làng nghề một cách khoa học. Từ đó phân loại và có giải pháp phù hợp. Các làng nghề cần có quy hoạch để xây dựng các khu sản xuất tách khỏi các khu dân cư, khu sản xuất nông nghiệp.

Cần xử lý triệt để cơ sở gây ô nhiễm, thậm chí có thể quy trách nhiệm hình sự khi gây tác hại nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người. Có chính sách đền bù thỏa đáng cho người dân chịu ảnh hưởng từ ô nhiễm. Đồng thời, có cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp làm tốt việc kiểm soát ÔNN. Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào kiểm soát, giám sát ÔNN; Nâng cao nhận thức cộng đồng về vấn đề sử dụng nguồn nước, có sự phối hợp, chính sách hỗ trợ, bảo vệ đối với những người tố cáo các hành vi gây ÔNN. Xây dựng các cơ chế cụ thể để thu hút sự tham gia của tất cả các bên liên quan trong các quá trình lập quy hoạch, kế hoạch và triển khai các biện pháp BVMT nước.

Công khai hóa các thông tin, dữ liệu liên quan đến tình hình ô nhiễm và các nguồn gây ô nhiễm môi trường nước trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tiến tới môi trường sống tốt đẹp, sản xuất nông nghiệp luôn được đi đôi với BVMT, mỗi cá nhân hãy vì cộng đồng và tương lai của cuộc sống. Sự hài hòa trong sản xuất nông nghiệp và môi trường được phát triển song hành để tạo ra nền nông nghiệp phát triển bền vững.

Theo Tạp chí Môi trường