SO KHOA HOC CONG NGHE - KIEN THUC NONG NGHIEP
Thursday, December 18, 2014
Kinh nghiệm nâng cao năng suất và phẩm chất ớt vụ xuân hè   -   Kinh nghiệm nuôi gà thịt hiệu quả   -   Dịch hại cần chú ý vụ hè thu   -   Phòng trị bệnh đầu đen ở gà   -   Phòng bệnh tổng hợp cho cá   -   Một số kinh nghiệm nuôi vịt thả đồng   -   Kỹ thuật trồng, chăm sóc chuối lùn   -   Kỹ thuật trồng ớt ngọt theo hướng an toàn   -   Bệnh thán thư hại khoai sọ   -   Bón phân đón đòng cho lúa chiêm xuân   -   Kỹ Thuật Trồng Nấm Rơm   -   Sử dụng phân bón lá cho lúa   -   Phòng trừ chuột hại lúa xuân   -   Những vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đối với ao nuôi thủy sản   -   Nhện gié hại lúa   -   Nấm đối kháng hạn chế rau màu héo rũ   -   Bệnh héo tươi, héo xanh trên ớt   -   Bệnh loét hại cây có múi và biện pháp phòng trừ   -   Để vườn cam sành lâu cỗi   -   Kỹ thuật trồng cải bắp   -   Bón thúc cho lúa đẻ nhánh ở vụ xuân   -   Khắc phục lúa gieo thẳng chậm ra lá   -   Kinh nghiệm nuôi gà Đông Tảo   -   Nhân giống chuối tiêu hồng bằng công nghệ nuôi cấy mô   -   Chủ động chống rét cho cây trồng, vật nuôi   -   Cần chính sách mới cho thủy sản theo GAP   -   Lưu ý khi nuôi chim trĩ   -   Bệnh đạo ôn   -   Chống rét cho mạ và chăm sóc lúa   -   Cảnh giác thương lái Trung Quốc mua lá khoai lang   -   Trồng và chăm sóc vườn cây ăn quả bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm   -   Khẩn trương chống rét cho mạ và lúa xuân   -   Kỹ thuật nuôi chạch đồng   -   Kỹ thuật diệt chuột   -   Trồng rau trong hộp xốp   -   3 giống hoa đào   -   Quản lý sức khỏe tôm nuôi khi chuyển mùa   -   Chăm củ cải trắng vụ đông   -   Ương dưỡng tôm giống trước khi nuôi   -   Lưu ý khi lưu giữ cá giống qua đông   -   Cho hành lá thêm xanh   -   Nấm bệnh héo rũ hại hành   -   Bệnh héo rũ Panama hại chuối và biện pháp phòng trừ   -   Trồng khổ qua không khó   -   Để nuôi cá chép giống V1 đạt năng suất 2 tấn/ha   -   Tăng cường phòng chống dịch lở mồm long móng   -   Nuôi ong lấy mật - cải thiện kinh tế hộ gia đình   -   Bón phân hợp lý cho cây chè ở miền núi phía Bắc   -   Biện pháp hạn chế hao hụt lươn khi mới thả giống   -   Ủ chua cỏ xanh để nuôi trâu, bò   -   Sản xuất lươn giống   -   Để dưa leo không bị đắng   -   Nhận diện "công nghệ" SX thuốc BVTV giả   -   Nấm sò và kỹ thuật nuôi trồng   -   Chăm sóc rau màu khi gặp thời tiết bất lợi   -   Giảm thiểu tỷ lệ chết héo rũ cho hành vụ đông   -   Quy trình trồng khoai tây bằng phương pháp làm đất tối thiểu có phủ rơm rạ   -   Nấm bệnh hại bí xanh   -   Kinh nghiệm nâng cao năng suất, chất lượng củ đậu thu đông   -   Cách nhận biết bệnh thán thư hại rau màu   -   Chọn giống đu đủ cho nhiều quả   -   Thức ăn có sẵn cho cá nước ngọt   -   Hướng tới công nghệ chăn nuôi không phân   -   Hướng dẫn gieo trồng giống ngô Nếp lai F1 HN88   -   Cách phòng, chống dịch cúm gia cầm   -   Bí quyết nuôi cá trắm đen kiếm lời   -   Tự trồng rau gia vị tại nhà   -   Sản xuất giống cá trắm cỏ chính vụ   -   Một số điểm cần lưu ý trong chăn nuôi thỏ   -   Bệnh nấm phổi trên vịt   -   Một số lưu ý trước khi vào vụ nuôi tôm xuân hè 2013   -   Cách phòng trừ bệnh đạo ôn trên lúa xuân   -   Kỹ thuật trồng hành củ, hành hoa an toàn   -   Lưu ý khi sử dụng vôi và hóa chất cho ao nuôi   -   Đậu tương DT51 có thể trồng 3 vụ/năm   -   Sản xuất thành công khoai tây siêu nguyên chủng   -   Một số biện pháp chủ yếu chăm sóc và bảo vệ lúa chiêm xuân năm 2013   -   Lưu ý bón thúc đẻ nhánh lúa chiêm xuân   -   3 bước chống dịch lợn tai xanh   -   Sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi thỏ   -   Một số biện pháp hạn chế tôm chết trong quá trình thả nuôi   -   Bệnh dịch tả vịt   -   Nuôi cá chạch - Hướng mới nhiều triển vọng   -   Trồng dong riềng xen ngô lãi lớn   -   Chăm sóc lúa xuân đúng cách   -   Kỹ thuật trồng lại đào sau tết   -   Nhiều lưu ý về sản xuất vụ đông xuân   -   Lợn “tên lửa” dễ nuôi, dễ bán   -   Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính trên gia cầm   -   Nuôi bồ câu gà   -   Giống dưa leo Cúc 71   -   Hiện tượng heo cắn đuôi nhau   -   Bí quyết trồng cam đường Canh kiếm tiền Tết   -   Chế phẩm từ vi khuẩn giúp tăng năng suất cây lạc   -   Phòng trừ bọ nhảy ở rau cải   -   Quy trình sản xuất cây bí xanh theo tiêu chuẩn VietGAP   -   Kỹ thuật phòng và trị bệnh trong nuôi trồng thủy sản   -   Những điểm cần lưu ý khi nuôi cá rô đồng   -   Cách nhận biết hải sản bị ngâm ướp urê   -   Kỹ thuật trồng củ cải   -   Nhận biết bệnh cúm gia cầm   -   Làm chuồng úm chống rét cho lợn sữa   -   Cách làm đào nở hoa đúng tết   -   Trồng và chăm sóc rau màu khi rét đậm   -   Cách nhận biết bệnh vi-rút trên rau   -   Hướng dẫn biện pháp diệt chuột   -   Hạn chế mạ chết từng chòm   -   Một số lưu ý khi phân biệt 4 bệnh đỏ ở lợn   -   Những giải pháp đào ao thả cá đầu tư thấp   -   Một số lưu ý để nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi gà   -   Bảo quản và sử dụng vắc xin trong chăn nuôi   -   Khẩn trương cày ải phơi đất   -   Chủ động phòng chống rét cho trâu bò   -   Sử dụng thuốc BVTV theo khuyến cáo   -   Bí quyết phòng trừ phi hóa dịch hại trong vườn   -   Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cà chua   -   Bệnh cúm gia cầm và biện pháp phòng trị   -   Giống đậu tương cao sản DT51   -   Hiệu quả từ nuôi gà nòi chân vàng   -   Chăm sóc, quản lý tôm cá trong mùa rét   -   Phòng và điều trị bệnh nấm phấn đen ở chuối   -   Sản xuất gạo nhân tạo   -   Bệnh hại trên cây khoai tây, cà chua và biện pháp phòng trừ   -   Sâu bệnh hại trên cây dưa chuột và biện pháp phòng trừ   -   Mở rộng sản xuất trà xuân muộn   -   Nuôi trồng, khai thác thủy hải sản   -   Công nghệ sản xuất mạ khay   -   Cách ngăn ngừa dưa chuột đắng   -   Ngăn ngừa ô nhiễm nước và phòng bệnh cho cá   -   40% mẫu gà có dư lượng kháng sinh và chất cấm   -   Ngô không hạt - nguyên nhân và cách khắc phục   -   5 giống đậu tương năng suất cao   -   Bí đỏ dễ trồng, không kén đất   -   Xử lý hạt giống rau trước khi gieo   -   Nuôi trồng thủy sản theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia   -   Nên trồng ngô nếp lai F1 - HN88   -   Gà ri vàng rơm   -   Nhân giống nhanh cây đu đủ   -   Trồng lạc vụ đông bằng phương pháp phủ nylon   -   3 giống bí xanh cho vụ đông   -   Khắc phục hành thối nhũn   -   Bệnh chạy dây bí xanh   -   Nuôi cua lãi hơn trăm triệu   -   Những điểm cần lưu ý khi nuôi cá rô đồng   -   Kỹ thuật nuôi cá chình thương phẩm trong ao   -   Thụ tinh nhân tạo giống gà ri   -   Bí quyết để hoa hồng ra hoa nhiều vào ngày tết   -   Để giá trị khoai lang tăng cao   -   Đã có vacine khống chế virus cúm gia cầm mới   -   Một số lưu ý khi sử dụng vaxin phòng bệnh cho gia súc, gia cầm   -   Phòng và trị bệnh cho động vật thủy sản trong mùa mưa lũ   -   Trồng khoai lang Thu Đông hiệu quả   -   Trồng khoai tây bằng phương pháp làm đất tối thiểu   -   Kỹ thuật nuôi cua đồng   -   Dùng phương pháp cấy mô để nhân giống chuối già lùn   -   Nhân giống khoai tây bằng nuôi cấy mô và công nghệ trồng không cần đất   -   Hướng dẫn sử dụng vắcxin cúm gia cầm đúng cách   -   Điều khiển nhãn ra hoa rải vụ   -   Hỗ trợ đổi mới chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học   -   Trồng cam sành theo hướng sạch, an toàn   -   Cách xử lý bệnh chổi rồng trên nhãn   -   Để bí xanh trái vụ bền cây, sai quả   -   Kỹ thuật trồng cà chua   -   Nuôi ngan thịt chọn giống và chuẩn bị   -   Chi Lăng Nam: Biến tiềm năng thành hiện thực   -   Sẽ có Nghị định về tích tụ ruộng đất   -   Nghị quyết BCH Trung ương lần thứ 7 (khoá x) về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn   -   Cải tiến đàn Bò   -   Kỹ thuật chăm sóc một số hoa Lan   -   CHẠM KHẮC GỖ ĐÔNG GIAO
5:25

KIẾN THỨC NÔNG NGHIỆP

Tin tức hàng ngày

Trồng trọt

Chăn nuôi

Thủy sản

Chế biến, bảo quản NS

Làng nghề

Kỹ thuật mới

Mô hình sản xuất

Thị trường

Chính sách hỗ trợ

Khoa học thưởng thức

Hỏi đáp về KHCN

Video về Nông nghiệp

TÌM KIẾM THÔNG TIN
  

Số lần truy cập
5445524

Sâu bệnh chính hại đậu tương

( Thời gian đăng : 01:52:27 27/02/2009 )     

Đặc điểm Một số loại sâu bệnh chính hại đậu tương  và các biện pháp phòng trừ



I . Sâu hại đậu tương và biện pháp phòng trừ.
1. Sâu khoang hại đậu tương:
* Đặc điểm gây hại: Sâu thuộc loại đa thực (hại 290 loại cây thuộc 90 họ thực vật) sâu non ăn chịu lá, hoa và gặm quả, gây thiệt hại lớn đến năng suất.
* Hình thái: Sâu trưởng thành thân dài 16 - 20 mm, đại thể mầu nâu xám, bướm đực mầu sẫm hơn. Cánh trước vân đốm phức tạp, phần giữa cánh có đường vân xiên cong rõ ràng, gần mép ngoài có dãy đường vân đen gợn sóng; cánh sau mầu xám trắng, đoạn cuối bụng có chùm lông mầu nâu nhạt. Trứng đẻ thành ổ, trên ổ trứng phủ một lớp lông mỏng mầu nâu; quả trứng hình bán cầu, đường kính ước 0,5 mm, bề mặt có vân, sâu non đẫy sức thân dài 38 - 51 mm; màu sắc của cơ thể luôn thay đổi, có khi mầu nâu sẫm, mầu nâu, mầu xanh nhạt … Tuyến lưng và tuyến bên mầu vàng; giữa ngực đến mặt lưng đốt bụng thứ 9 ở mỗi đốt có một đôi đốm đen hình tam giác. Trong đó đốm to nhất ở đốt bụng thứ 1 và thứ 8. Nhộng hình tròn ống, dài 18 - 20 mm, mầu nâu đỏ. Phần bụng ở mép sau lỗ thở dạng răng cưa, gần chỗ mép trước mặt lưng đốt thứ 4 - 7 dày đặc những chấm nhỏ; đoạn cuối có một đôi gai cứng.
* Đặc điểm sinh học, sinh thái. Trưởng thành rất thích ăn dịch chua ngọt, hoạt động ban đêm. Mỗi bướm cái thường đẻ 3 - 5 ổ trứng, ổ trứng hình dạng không đồng đều, quả trứng trùng lắp nhau xếp thành 2 - 3 tầng, mỗi ổ có trên 300 quả trứng. Sâu non mới nở ra sống tập trung sang tuổi 2 - 3 mới bò ra đi phân tán hoặc nhả tơ để di chuyển. Sâu tuổi 4 - 6 là bước vào thời kỳ ăn mạnh nhất, lượng thức ăn chiếm tới 95% thức ăn của một đời sâu non và di chuyển từng đàn bò qua các ruộng, bờ mương, mặt đường cái. Sâu đẫy sức chui xuống đất sâu 2cm làm lỗ hóa nhộng. Trong điều kiện nhiệt độ 26 - 320C giai đoạn bướm 6 - 12 ngày, trứng 2 - 3 ngày, sâu non 16 - 19 ngày, nhộng 7 - 10 ngày. Một năm sâu phát sinh 8 - 9 lứa, đỉnh cao về số lượng là các lứa phát sinh vào cuối tháng 4 đầu tháng 6. Sâu khoang trên đậu tương sau đợt phát sinh cao vọt vào tháng 5 bị ong Micropletis sp ký sinh từ 10 - 100%. Bệnh nấm trắng và bệnh chết thối chảy nước vàng làm sâu chết nhiều.
* Biện pháp phòng trừ: Dùng bẫy chua ngọt thu bắt trưởng thành, ngắt ổ trứng. Dùng thuốc trừ sâu sinh học Abamectin (Tập kỳ 1,8 EC) theo chỉ dẫn, hoặc chế phẩm sinh học Bt, NPV phun lên cây vào giai đoạn đậu ra hoa, quả non, khi sâu bắt đầu phát triển. Dùng thuốc phun trừ khi sâu phát sinh thành dịch. Thuốc Dipterex 80% pha với nước tỷ lệ 1:800, Monitor 50%, Rogor 40EC, Sevin 35% pha đều với nước tỉ lệ 1:100.
2. Sâu cuốn lá đậu tương.
* Phân bố : Các vùng trồng đậu tương đều có sâu phát sinh gây hại và thường xẩy ra thành dịch.
* Đặc điểm gây hại: Sâu non nhả tơ cuốn tròn lá nằm bên trong phá hại, ăn chất xanh còn trừ lại biểu bì, gây cho lá đậu co rụt khô chết.
* Hình thái: Trưởng thành thân dài 7,5 – 9,5mm, cánh dang rộng 20mm cánh trước màu vàng, phần giữa cánh và gần mép ngoài có 2 vệt ngang màu nâu đen. Trứng hơi vàng hoặc xanh, giao kết với nhau thành một chuỗi dẹt. Sâu non mình dài 20mm. Nhộng dài 6 – 8mm, lúc đầu màu xanh, dần chuyển màu nâu, màu vàng nhạt hoặc màu xanh.
* Đặc điểm sinh học, sinh thái: Sâu cuốn lá đậu tương phát sinh quanh năm trên đông ruộng. Mật độ của sâu tăng nhanh và gây hại lớn nhất vào thời kỳ cây 4 - 6 lá kép và quả đang phát triển. Sâu gây hại nặng trên lá đậu tương vụ xuân (vào cuối tháng 3 - cuối tháng 4); đậu tương vụ hè (vào cuối tháng 8 đầu tháng 9), đậu tương vụ đông (vào cuối tháng 11 đầu tháng 12) .
- Vòng đời của sâu ở các điều kiện 25 - 300C vòng đời 24,4 - 28,7 ngày; ở điều kiện 16 - 220C vòng đời 31,1 - 73,8 ngày. Thời gian các pha của sâu đậu tương ứng với vòng đời là: Trứng 3,2 - 4,5 ngày và 4,7 - 7,2 ngày, sâu non 12 - 14 ngày và 18 - 37,7 ngày, nhộng 6 - 6,4 ngày và 8,8 - 23,3 ngày, thời gian trước đẻ trứng của bướm là 3 - 4,4 ngày và 5,6 ngày.
- Sức đẻ trứng của bướm cái là 102 - 115 trứng, tỷ lệ trứng nở ra sâu non đạt tới 80 - 96% (T0 = 18 - 240C và A0=85 - 95%).
- Thời vụ gieo đậu tương muộn bị sâu nặng hơn so với gieo sớm. Đậu tương vụ xuân gieo ngày 25/2 và 28/3, tỉ lệ cây bị sâu hại khi đậu tương 3 - 6 lá kép tương ứng là 18,3 % và 34,4% khi quả đang phát triển tương ứng là 8,8% - 27,7%.
- Sâu cuốn lá đậu tương bị nhiều loại ký sinh nhưng phổ biến nhất là ong đen kén trắng và ong cự xám ký sinh sâu non, ong cự vàng, ong đen to ký sinh nhộng. Tỉ lệ sâu này bị các ong ký sinh cao, vụ đông 3,8 - 19,1%, vụ xuân hè 2,0 - 16,6%.
* Biện pháp phòng trừ: Luân canh đậu tương với lúa hoặc các cây họ hoa thảo, bông v..v.. có tác dụng hạn chế sâu hại rõ rệt. Bảo vệ và tăng cường hoạt động của thiên dịch bằng cách cách trồng xen đậu tương với cây trồng khác. thời kỳ sâu thường gây hại nặng là đậu từ 3 – 4 là kép đến quả non, khi cần thiết dùng các loại thuốc có hiệu quả diệt sâu cao như Bulldock 25 EC (Beta - Cyflutlirin) 0,8 – 1 lít/ha, Forvin 85 WP (Carbaryl) 0,75 – 1 kg/ha, Karate 25 EC (Lambda – Cyhalothrin) 0,3 – 0,5 lít/ha; Baythroid 50 EC. 5 SL (Cyfluthrin) 0,6 – 0,8 lít/ha.
3. Sâu đục quả đậu tương.
* Đặc điểm gây hại: Sâu non gặm vỏ quả, đục vào trong ăn hạt đậu tương, làm cho hạt bị khuyết từng phần hoặc bị rỗng bên trong, làm giảm tới 20% năng suất và hạt không dùng làm giống được.
* Hình thái: Trưởng thành thân dài 10 – 12 mm, cánh dài 20 – 14mm, thân màu nâu xám. cánh trước dài, hẹp và cũng màu nâu xám, chen lẫn vảy phấn màu sẫm, vàng nhạt, gần mép trước từ vai đến mép nhọn cánh có vệt dọc màu trắng, gần gốc cánh chỗ 1/3 cánh có một vệt ngang rộng màu vàng. Cánh sau màu vàng nhạt, dọc mép ngoài màu nâu. Bướm đực ở gốc chân râu có lông màu trắng. Trứng hình bầu dục, chiều dài 0,5mm, bề mặt chi chít dạng mắt lưới không trật tự nổi lên. Sâu non đẫy sức chiều dài thân 14 mm, sâu biến đổi màu sắc cơ thể luôn: tuổi nhỏ có màu trắng hoặc xám xanh; tuổi trung bình có màu xanh hoặc xanh có vệt hơi đỏ; tuổi lớn ở lưng có màu tím đỏ, bụng màu xanh. Mảnh da ngực trước cứng và ở giữa có vân đen hình chữ “Y”, ở hai bên có chấm đen, ở giữa mép sau lại có một đôi chấm đen. Nhộng dài 10mm, màu nâu vàng, đuôi có 6 cái gai câu. Kén hình bầu dục dài, chất tơ màu trắng, bên ngoài có trát đất
* Đặc điểm sinh học và sinh thái. ở các tỉnh phía bắc sâu phát sinh gây hại nặng trên đậu tương vụ xuân (tháng 4 - tháng 6) vụ hè (tháng 7 - tháng 8) vụ hè thu (tháng 4 - tháng 10) còn vụ đông bị hại nhẹ hơn. ở miền nam sâu phát sinh và gây hại quanh năm, mạnh nhất vào tháng 4 - tháng 5.
- Vòng đời từ 24 - 28 ngày (cuối tháng 3 - tháng 10) và 37 - 74 ngày (tháng 11 - tháng 2 năm sau). Ngài đẻ trứng trên quả là chính 73,2% còn các bộ phận khác chỉ chiếm 11 - 20,7% số trứng. Sâu non phân bố và gây hại trong ruộng đậu tương ở chung quanh bờ nhiều hơn ở giữa ruộng.
* Biện pháp phòng trừ: Lựa chọn chế độ luân canh thích hợp với cây đậu tương, luân canh với cây lúa nước, ngô, bông và những cây khác ký chủ đặc biệt luân canh “khô - ướt” có tác dụng hạn chế sâu rõ rệt. Xử lý các cây ký chủ dại ở quanh bờ ruộng như muồng, cốt khí… trước mùa gieo hạt. Sau khi thu hoạch cần cày bừa ruộng ngay, có điều kiện thì ngâm nước trong 2 – 3 ngày để hạn chế nguồn tích luỹ của sâu. Phun thuốc trừ sâu: Khi kiểm tra đồng ruộng vào thời kù đậu hình thnàh quả và quả bánh tẻ phát hiện sâu 3 – 4 con/10 cây thì kịp thời phun thuốc. Các loại thuốc có hiệu lực là Fastas 5 EC, Fortac 5 EC (Alpha – cypermethrin, liều lượng 0,4 – 0,6lít/ha; Cyperkill 25 EC; Prower 5 EC (Cypermethrin) 0,6 – 0,8 lít/ha; Sumidin 20 EC (Penvalerte) 0,8 – 1 lít/ha.
4. Bọ xít xanh hại đậu tương
* Đặc điểm gây hại: Là loại sâu đa thực cả trưởng thành và sâu non chích hút nhựa của lá, hoa đặc biệt là quả và hạt non làm thui chết, quả lép không được thu hoạch.
* Hình thái: Trưởng thành thân dài 13 mm, hình lá chắn dài, toàn thân màu xanh, phiến tiểu thuẩn có 3 chấm trắng nhỏ. Khác là có hai loại màu sắc: Một loại hình vai màu vàng, một loại hình vai màu vàng chanh to, mình dẹt và màu vàng, có chấm màu xanh to. Trứng đẻ thành cục, xếp thành hai hàng, quả trứng hình cái cốc, đường kính 0,9 mm, chiều cao 1 mm. Sâu non: có 5 tuổi, sâu non đẫy sức thân dài 10 - 10,2 mm hình bù dục dài; khi mới nở màu phớt hồng, sau chuyển sang màu xanh là chính; đầu, mặt và lưng ngực có chấm đen nhỏ, mép hông màu đỏ nhạt, lưng bụng có 3 đôi chấm trắng.
* Đặc điểm sinh học, sinh thái: Bọ trưởng thành có tính ưa ánh sáng, và cũng có tập quán qua đông. Khả năng đẻ trứng của một con cái đẻ từ 50 - 500 quả trứng; Bọ xít non mới nở đến 3 tuổi sống tập trung, ít di chuyển. Thời gian trứng 4 ngày, sâu non 20 - 22 ngày trưởng thành 37 - 119 ngày.
- Bọ xít xanh có mặt quanh năm trên đồng ruộng. Thời kỳ có số lượng nhiều và gây hại nghiêm trọng làm giảm năng xuất là: Vụ đậu tương xuân (vào tháng 4 - 5), đậu tương hè (vào tháng 7 - 8) và đậu tương hè thu(vào tháng 9 - 10).
* Bịên pháp phòng trừ: Dùng bẫy đèn thu bắt sâu trưởng thành. Phát hịên sớm để diệt những ổ bọ xít non mới nở hoặc vợt bắt trưởng thành. Khi đậu bắt đầu ra hoa - quả non mà mật độ bọ xít 1 - 3 con/1 cây nên phun thuốc ngay. Các loại thuốc có hiệu lực cao là Cyper 25 EC (Cypermethrin) 0,6 - 0,8 lít/ha, Perkill 50 EC (permethrin) 0,1 - 0,3 lít /ha, Actara 25 WG (Thiamethoxam) 50 gr/ha, superkill 50 EC (Fenobucarb) 1 - 2 lít/ha, Difterex go sp (Trichlofon) 1 - 1,2 lít/ha.
5. Rệp hại đậu tương
* Đặc điểm gây hại: Rệp trưởng thành và rệp con tụ tập châm chích hút chất dịch ở lá non, ngọn cây, nụ, hoa và quả. Sau khi bị hại thì lá teo quắt khô chết không được thu hoạch. Rệp còn là môi giới truyền bệnh virus.
* Hình thái: Rệp non cái có cánh: Thân dài 1,2 - 1,9 mm, cơ thể màu vàng, xanh nhạt hoặc xanh đậm; phần đầu và mảnh lưng ngực trước màu đen; phần bụng ở hai bên có 3 - 4 chấm đen. Râu so với thân ngắn hơn, trên đốt thứ ba có 5 - 8 vòng cảm giác xếp thành hàng. ống bụng hình tròn ống, phần gốc hơi to, màu đen. Phiến đuôi màu xanh, dạng đầu vú.
- Rệp non cái không cánh: Thân dài 1,5 - 1,9 mm. Về mùa hè thì cơ thể có màu vàng chanh, màu vàng; mùa thu có màu xanh thẫm, màu đen, màu hồng nhạt. Toàn thân phủ bụi xáp. Râu chỉ ở đốt thứ 5 có một vòng cảm giác. ống bụng ngắn, hình tròn ống và phần gốc hơi to. Phiến đuôi màu xanh, hơi dạng đầu vú.
* Đặc điểm sinh học, sinh thái: Rệp có sức sinh sản lớn, ở điều kiện thích hợp trong một ngày thì một rệp cái đẻ được 10 rệp con và một đời đẻ được 60 - 70 rệp con. Rệp phát sinh quanh năm. Mùa hè khoảng 5 - 7 ngày một lứa, mùa đông 15 - 20 ngày một lứa. Trên đậu tương của các tỉnh phía Bắc rệp gây hại nhiều ở vụ xuân vào tháng 2, tháng 3, vụ hè thu vào tháng 10. Vùng đậu tương ở phía Nam nhiệt độ cao vẫn thích nghi cho rệp sinh sản.
* Biện pháp phòng trừ: Chặt bỏ cây chủ thân gỗ, cây dâm bụt… Tiêu diệt trứng qua đông và vệ sinh đồng ruộng khi gieo trồng đậu tương. Luân canh đậu tương với lúa nước và các cây khác ký chủ với rệp đậu tương. Tỉa cây sớm, nhổ bỏ cây bị rệp và chăm sóc làm cỏ kịp thời tạo điều kiện thông thoáng trong ruộng đậu.
Rệp thường gây hại nặng khi đậu cây non(sau trồng 20 - 30 ngày) và đậu ra hoa - hình thành quả. Khi cần phòng trừ dùng các loại thuốc có hiệu lực trừ rệp cao là Bestox 5 EC, Fortac 5 EC (Alfla-cypermethrin) 0,4 - 0,7 lít/ha confidor 100 sl(imidacloprid) 0,6 - 0,8 lít/ha, supracide 40 ND (Methidathion) 1 - 1,5 lít/ha.
6. Ruồi đục thân đậu tương.
* Đặc điểm gây hại: Ruồi trưởng thành đẻ trứng vào biểu bì chỗ cuống lá, sâu non đục vào giữa thân và sống ở đó phá hại làm cho cây mất dinh dưỡng khô héo chết, cây bị hại sống sót được thì lùn thấp, số quả ít, số hạt ít và trọng lượng giảm.
* Hình thái: Trưởng thành loại hình bé, thân dài 2,5 mm, màu đen sáng phần bụngmàu xanh óng ánh, mắt kép màu đỏ tối(màu gụ). Gân costal nổi rõ đến tận ngọn gân M¬1-2 ở buồng giữa. Gân cánh và chuỳ cánh màu đen. Trứng hình bầu dục dài, chiều dài 0,31 - 0,35 mm, màu trắng sữa, hơi trong. Sâu non (dòi) dài 2,3 - 4 mm, màu vàng nhạt. Lỗ thở cuối bụng nhô ra khỏi thân, có 6 - 8 lỗ thở xếp quanh mấu đen nhỏ. Nhộng dài 2 - 3 mm, hình quả trám, màu vàng nhạt, hơi trong.
* Đặc điểm sinh học, sinh thái: Trong năm ruồi xuất hiện trên đồng ruộng đậu tương từ cuối tháng 1 đến đầu tháng 12. ở các vùng đậu tương phía Bắc ruồi gây hại nặng trên đậu tương vụ đông(vào tháng 10 - 11), đậu tương vụ xuân(vào tháng 2 - 3- 4), đậu tương vụ hè và hè thu ít bị hại. ở thời kỳ cây non, tỉ lệ cây bị hại tương ứng là 77%, 46,6% và 7,1%. ở Đông Nam bộ ruồi phát sinh và gây hại nhiều từ tháng 6 - 9, tỉ lệ cây bị ruồi hại trong giai đoạn cây non từ 5 - 20%. Vòng đời của ruồi tương đối ngắn, ở điều kiện nhiệt độ 25 - 30¬¬0C là 25 - 28,5 ngày (thời gian trứng là 2 -3 ngày, sâu non 10 - 11 ngày, nhộng 9 - 10 ngày, trưởng thành 3 - 5 ngày ). Sức đẻ trứng của ruồi của ruồi cái nhiều nhất 13 trứng, bình thường 7 - 9 trứng. Thời vụ gieo và giống đậu tương ảnh hưởng đáng kể đến tác hại của ruồi. Vụ đông và vụ xuân càng gieo sớm tỉ lệ cây bị hại càng nhiều. Chưa phát hiện thấy giống nào kháng ruồi. Giống AK02 có thời gian sinh trưởng ngắn (40 ngày) có thể gieo muộn nên bị ruồi hại nhẹ hơn. Tỉ lệ cây bị ruồi hại trên AK02 là 19,3% trên giống dài ngày (ĐT74) 33,4%.Thiên địch quan trọng của ruồi đục thân đậu tương là Ong Eulopnus sp ký sinh ấu trùng và Ong Atoposoma sp ký sinh nhộng. Ký sinh tự nhiên tới 10 - 25%.
* Biện pháp phòng trừ. Gieo hạt dày để tránh cây non mất khoảng, sau đó tỉa cây sớm, loại bỏ cây bị ruồi hại và vun gốc, chăm sóc kịp thời cho đậu tương. Xử lý hạt bằng thuốc Oftanol (40gr/kg hạt) hoặc Gacho 70WS bón vào đất bằng thuốc Basudin, Furadan trước khi gieo hạt có hiệu quả phòng trừ ruồi cao làm tăng năng suất đậu tương rõ rệt. Vụ đậu tương bị ruồi hại nặng thì thời gian phun thuốc lên cây có hiệu lực trừ ruồi cao là khi cây mới ra 2 lá đơn. Loại thuốc cần dùng như Bitox 40 EC (Dimethoale) 0,8 – 1 lít/ha, Regent 800WG (Fipronil) 20 – 30 gr/ha, Selecron 500 EC (Profenos) 0,8 – 1 lít/ha, Peran 50 EC 200 – 400cc/ha.
II . Bệnh hại đậu tương và biện pháp phòng trừ.
1. Bệnh sương mai.
* Triệu trứng bệnh. Bệnh hại các bộ phận lá , thân, quả. Nhưng hại lá là chủ yếu. Trên lá bệnh xuất hiện đầu tiên những chấm nhỏ màu xanh vàng xám dần, vết bệnh mở rộng hình thành đa giác, hình không cố định. Vết bệnh rải rác trên lá nhưng thường ở dọc các gân lá, cuối cùng vết bệnh có màu nâu vàng, khô cháy. Mặt dưới vết bệnh có lớp mốc trắng xám, hơi xốp đó là các bào tử của nấm gây bệnh. Bóc quả bị bệnh thấy bên trong cũng có lớp nấm mốc trắng xám, hạt lép.
* Nguyên nhân gây bệnh và đặc điểm phát sinh phát triển bệnh.
- Nấm gây bệnh Peronospora manshurica thuộc bộ Peronosporales lớp Nấm Tảo.
- Cành bào tử phân sinh dạng cây, đâm nhánh kép phân cành 6 - 7 cấp, đơn bào không màu. Đỉnh nhánh nhọn cong. Bào tử phân sinh đơn bào hình trứng tròn 16 - 20 x 20 - 24 àm.
- Giai đoạn hữu tính sinh ra bào tử trứng hình cầu có mầu hơi vàng, tồn tại ở trong quả và mô lá bị bệnh rơi trên đất trở thành nguồn bệnh lâu dài. Ngoài ra sợi nấm ở lá quả cũng là nguồn bệnh cho các vụ sau.
- Bệnh sương mai thường phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt độ trung bình thấp trên 200C nên thường phá hại chủ yếu vụ đậu tương xuân. Bệnh phát sinh phát triển từ tháng 3 - 5, bệnh phát sinh phá hại từ giai đoạn 4 - 5 lá kép trở đi.
* Biện pháp phòng trừ. Cần chọn giống tốt, lấy giống ở các ruộng không bị bệnh. Xử lý hạt giống để phòng trừ chung các bệnh hại đậu tương, sau khi thu hoạch làm tốt vệ sinh: dọn sạch tàn dư trên đồng ruộng. Trong thời kỳ cây sinh trưởng có thể phun phòng trừ bằng Boocđô 1% ngay từ khi bệnh chớm xuất hiện (4 - 5 lá kép) phun lặp lại 1 - 2 lần cho đến khi sắp có hoa. Hay bằng Aliette 0,25% dạng nhũ Oxyclorua đồng 30% pha 1/100,…
2. Bệnh gỉ sắt.
* Triệu trứng bệnh. Bệnh hại nặng nhất ở lá, có thể có trên thân cành và quả. Lúc ban đầu ở mặt dưới lá vết bệnh hình thành dưới dạng những chấm nhỏ màu vàng trong, đường kính từ 0,2 - 0,3 đến hơn 1mm. Sau đó, vết bệnh nổi lên trên mặt lá có màu vàng nâu, biểu bì lá nát ra để lộ ổ bào tử có mầu nâu vàng (màu gạch non). Trong vụ đông xuân, thời tiết thuân lợi cho các bệnh phát triển, ổ bào tử thường lớn, vết bệnh to và nhiều hơn vụ hè thu. Sau các đợt không khí lạnh vào tháng 1 - 2 trên lá đậu tương có thể xuất hiện các ổ bào tử mầu đen - đó là các ổ bào tử đông.
Cây đậu tương bị bệnh khiến lá sớm bị vàng, hàm lượng diệp lục giảm nhanh chóng, cường độ quang hợp và sự trao đổi chất trong cây giảm, do đó năng suất và phẩm chất đậu tương bị giảm sút nghiêm trọng. Những ruộng bị nặng hầu như không được thu hoạch.
* Nguyên nhân gây bệnh. Nấm gây bệnh Phakopsora sojae thuộc bộ Nấm gỉ sắt Uredinales lớp Nấm Đảm Basidiomycetes.
Bào tử hạ Uredospore là bào tử thường gặp trên vết bệnh, thường có hình trứng hay hình tròn, có gai nhỏ trên bề mặt, màu vàng nâu. Kích thước bào tử hạ trung bình khoảng 19,1 - 20,3 x 26 - 27 àm. Trong điều kiện nhiệt độ thấp trên lá già có thể tạo các ổ bào tử đông màu đen, đơn bào vỏ nhẵn xếp thành băng chặt chẽ bên trong ổ bào tử.
Bào tử hạ là nguồn bệnh quan trọng nhất bào tử hạ và sợi có thể bám giữ trên thân, lá, quả bị bệnh, rơi trên đất và trên bề mặt hạt giống, vỏ quả khi giữ hạt lại làm giống. Bào tử hạ gặp giọt nước hay điều kiện ẩm độ cao se dễ dàng nẩy mầm ở nhiệt độ từ 20 - 250C. Thời kỳ tiềm dục của bệnh kéo dài tới 13 ngày ở nhịêt độ thấp (150C) nhưng sẽ rút ngắn chr khoảng 6 - 8 ngày ở nhiệt độ cao từ 20 - 300C. Tuy nhiên ở nhiệt độ cao hơn 300C tỷ lệ nẩy mầm giảm rõ rệt và khả năng xâm nhập, hình thành bào tử mới trên vết bệnh bị hạn chế do đó bệnh không phát triển được.
* Đặc điểm phát sinh và phát triển của bệnh. Tất cả các vụ trồng đều bị bệnh nhưng bệnh phát sinh và phá hại nặng nhất trong vụ đậu tương xuân. Các vụ đông, xuân hè, hè thu bệnh nhẹ hơn. ở vụ xuân khi bệnh nặng chỉ còn thu hoạch từ 0,8 - 2,5 tạ/ha, trong khi bình thường năng suất đạt được từ 1 - 1,5 tấn/ ha. Vụ đông thời tiết lạnh, vụ xuân hè và hè thu nhiệt độ rất cao nâm khó hình thành bào tử và khó thực hiện nảy mầm, xâm nhiễm vì vậy bệnh hại rất nhẹ.
- Cao điểm của bệnh thường tập trung ở vụ xuân vào tháng 3,4 khi nhiệt độ đạt từ 18 - 200C và cây đậu có từ 5 lá kép đến khi thu hoạch quả. Bệnh có thể kéo dài đến tháng 5 làm lá cây rụng hàng loạt, ruộng đậu tương vàng rực màu lá bệnh.
- Trong các giai đoạn sinh trưởng thì cây mọc tới chớm hoa ít bệnh. Từ ra hoa đến thu hoạch quả là lúc bệnh phát triển nhanh nhất trên lá bánh tẻ và lá già. Điểm này liên quan tới sự tích lũy và biến động hàm lượng protit và axit amin trong các giai đoạn sinh trưởng ở các tuổi cây khác nhau.
Các giống đậu tương trồng ở nước ta hiện nay đều bị nhiễm các bệnh ở các mức độ khác nhau. Theo dõi thí nghiệm của Bộ môn Bảo vệ thực vật trường ĐHNNI - Hà Nội cho thấy: giống Lơ Gia Lâm và Lơ Thuận Thành nhiễm bệnh chậm hơn các giống khác. Các giống ít bị bệnh muộn trên đồng ruộng hiện nay là: M103, DT93, DT84, AK03, AK05, VX93, dòng 42. Các giống nhiễm bệnh nặng là V74 (DT74) và ĐH4(*).
- Các biện pháp kỹ thuật canh tác ít ảnh hưởng tới bệnh, song qua điều tra bệnh ở vùng ngoại thành Hà Nội cho thấy: bón phân hợp lý, bón đủ kali hay trồng đậu tương xen ngô, luân canh với lúa nước v.v… bệnh có xu hướng giảm hơn là đậu tương không chăm sóc chu đáo, không trồng xen, không luân canh.
* Biện pháp phòng trừ. Chọn giống chịu bệnh, chống bệnh và sản xuất giống sạch bệnh để sử dụng trong sản xuất.
- Luân canh với lúa nước hay các cây hòa thảo.
- Xử lý giống bằng Bayphidan 10 - 1g a.i./1 tấn hạt giống.
- Có thể phun thuốc hạn chế bệnh bằng các loại thuốc trừ gỉ sắt đặc biệt như: Bayleton 250 g a.i./ha; Baycor 125 - 375 g a.i./ha; phun nước lưu huỳnh vôi 0,3 - 10Bômê.
3. Bệnh đốm tròn.
* Triệu trứng bệnh: Do Vi khuẩn xâm nhập qua khí khổng vào tế bào nhu mô lá làm tế bào phình to hóa cứng rồi vỡ ra, hình thành các vết đốm. Ban đầu là các đốm nhỏ xanh nhợt với phần ở tâm hơi lồi lên, vết bệnh bị giới hạn và thường thấy ở mặt dưới lá, kích thước vết bệnh nhỏ ( 1mm)> Về sau nhiều vết nhỏ có thể liên kết với nhau tạo ra các vết bệnh chết hoại có mầu nâu rộng hơn. Sự hình thành quàng vàng nhỏ xuất hiện quanh mép các vết đốm riêng rẽ là một triệu trứng dễ thấy. Bệnh có thể phá hoại trên thân và quả tùy thuộc vào giống và điều kiện ngoại cảnh.
* Nguyên nhân gây bệnh và đặc điểm phát sinh bệnh.
- Vi khuẩn gây hình gậy hai đầu tròn, có một lông roi ở một đầu, nhuộm Gram âm, có khả năng phân giải gelatin, tinh bột, tạo H2S, không tạo NH3 và indon. Khuẩn lạc có mầu vàng, tròn, rìa nhẵn ướt.
- Bệnh xuất hiện và phát sinh ở tất cả các vụ trồng đậu tưong nhưng phổ biến gây hại ở vụ đậu tương hè và hè thu. Bệnh xuất hiện và phá hại trên hầu hết các giống đậu tương trồng trong sản xuất: AK03; AK05; M103; K7833; P1546; … nhưng có giống mức độ nhiễm bệnh rất ít hoặc không đáng kể như giống 907A.
- Vi khuẩn gây bệnh tồn tại trong hạt là chủ yếu, trong tàn dư và có thể tồn tại nhiều năm. Bệnh lan truyền qua hạt hoặc nhờ gió và côn trùng.
* Biện pháp phòng trừ. Các loại thuốc hóa học có chứa đồng hay các thuốc kháng sinh có hiệu quả phòng bệnh khá tốt nhưng biện pháp dùng giống chống bệnh vẫn giữ một vai trò quan trọng , ngoài ra việc sử dụng hạt giống sạch bệnh, luân canh cây trồng, xủ lý hạt giống, v.v… là những biện pháp có ý nghĩa trong việc phòng chống bệnh đốm tròn đậu tương.
4. Bệnh đốm góc lá đậu tương.
* Triệu trứng.
Do vi khuẩn gây hại trên lá là chủ yếu, có khi ở thân, quả, tạo thành các đốm xanh đậm hoặc nâu nhạt, nâu đen. Vết bệnh ban đầu nhỏ trong như giọt dầu, về sau vết bệnh phát triển theo gân lá thành dạng đốm có góc cạnh, màu đỏ nâu hoặc nâu đen, xung quanh vết bệnh có quầng màu kem nhạt. Nhiều vết bệnh có thể liên kết với nhau tạo thành các đán cháy ở giữa có màu nâu bạc, nâu đen, kích thước vết bệnh thay đổi có khi tới 26 mm.
* Nguyên nhân gây bệnh và quy luật phát sinh phát triển của bệnh.
- Vi khuẩn gây bệnh đốm góc có dạng hình gậy, hai đầu tròn có 1 - 3 lông roi ở một đầu, nhuộm gram âm, tạo H2S, không tạo NH3, inđôn, không phân hủy tinh bột, không phân giải gelatin.
- Trên môi trường nhân tạo khuẩn lạc của vi khuẩn có màu trắng đục, dìa lồi nhầy. Có phản ứng siêu nhậy trên thuốc lá, đây là phản ứng đặc trưng của loài ký sinh.
- Bệnh đốm góc thường phát sinh xen kẽ với bệnh đốm tròn, thời gian xuất hiện và diễn biến của bệnh trên các vùng trồng trọt cũng tương tự như bệnh đốm tròn. Bệnh phát sinh từ khi cây có 3 lá kép trở đi, nhưng phát triển mạnh từ khi cây ra hoa và hình thành quả non.
* Nguồn bệnh.
- Vi khuẩn tồn tại trong hạt giống và tàn dư cây bệnh, không qua đông trong đất nhưng có thể qua đông trong các vết bệnh của cây.
- Vi khuẩn P. phaseolicola có thể lan truyền nhờ gió, mưa và có thể phát tán rất xa.
* Biện pháp phòng trừ.
- Dùng hạt giống sạch bệnh , luân canh cây trồng và thay đổi thời vụ trồng; có thể dùng Streptomycine, hay Boócđô để phun cũng mang lại hiệu quả phòng bệnh.
5. Bệnh khảm lá.
- Là bệnh phổ biến ở khắp các vùng trồng đậu tương trên thế giới.
- Khi bị bệnh lá cây có nhứng phần xanh nhạt, đậm và biến vàng xen kẽ, cây chậm phát triển. Lá non ở ngọn khảm lá mạnh và biến dạng. Quả thường lép.
- Bệnh có phạm vi ký chủ khá rộng. Lây nhiễm tới hơn 30 loài cây khác nhau.
- Virút gây bệnh có hình sợi mềm dài 746 nm, thuộc nhóm Poty virut.
- Virut có thể lan truyền bằng 16 loại rệp thuộc họ Aphididae pisum, Aphisfabae, Myrus persicae là những loài rệp truyền bệnh chính. Virut truyền bệnh theo kiểu không bền vững.
- Sự lây lan từ cây bệnh sang cây khỏe do rệp muội ở ngoài đồng vẫn là chủ yếu, bệnh còn truyền qua hạt, đôi khi có tới 30% số hạt giống thu từ các cây bị bệnh có chứa virut trong hạt.
6. Bệnh lùn cây.
* Triệu trứng:
Gây còi cọc ở cây đậu tương, tạo hiện tượng gân xanh lá vàng, cây thấp nhỏ, hoa quả ít và quả lép nhiều.
* Nguyên nhân gây bệnh và quy luật phát sinh phát triển của bệnh.
- Bệnh do một loại virut hình cầu, kích thước nhỏ khoảng 25nm (đường kính). Virut truyền bằng rệp họ Aphididae nhất là rệp Acyrthosiphon và 6 rệp khác. Virut truyền theo kiểu bền vững trong cơ thể côn trùng.
- Bệnh phổ biến khác trên đậu tương là bệnh khảm lá hại đậu.
* Biện pháp phòng trừ.
- Chọn lọc cây sạch bệnh để làm giống.
- Vệ sinh, nhổ bỏ cây bệnh để tránh lây lan.
- Diệt trừ côn trùng truyền bệnh bằng các loại thuốc trừ rệp Aphididae thông thường./.
7 Bệnh lở cổ rễ .
- Cây non thường dễ bị nhiễm bệnh này. Đoạn thân cây sát mặt đất bị biến thành màu nâu và hơi tóp lại. Tr¬ường hợp bệnh nặng, gốc cây sẽ bị thối và cây gãy gục.
- Những ngày nắng nóng, âm u, có m¬ưa nhỏ tiếp theo nắng, bệnh phát triển mạnh.
- Ngoài ra đậu t¬ương còn th¬ường bị bệnh s¬ương mai và bệnh gỉ sắt gây hại
* Biện pháp phòng trừ.
- Chọn hạt giống tốt, sạch sâu bệnh
- Bón vôi và dọn sạch tàn dư¬ cây bệnh để hạn chế nguồn bệnh
- Tăng cường phân kali và phân lân
- Xới phá váng sau khi m¬a, tỉa bỏ lá già d¬ới gốc, gieo hạt đúng mật độ
- Làm luống dễ thoát n¬ớc
- Khi bệnh nặng, dùng các loại thuốc trừ nấm nh¬ư : Validacin hoặc Rampart... Phun đẫm thuốc vào chỗ bị bệnh ./.
 

Trung tâm Khuyến nông (NTT sưu tầm)

 

Các bài mới nhất

-  Dịch hại cần chú ý vụ hè thu
-  Chế biến thân, lá cây bắp làm thức ăn gia súc
-  Lợi ích phân hữu cơ và cách ủ
-  Kỹ thuật mới nâng cao chất lượng súp lơ xanh
-  Kỹ thuật diệt chuột
-  Dùng vôi trừ sâu bệnh
-  Phương pháp trồng chuối tây
-  Nhận diện "công nghệ" SX thuốc BVTV giả
-  Ủ chua cỏ xanh để nuôi trâu, bò
-  Cách chọn giống đu đủ cho nhiều quả
 

Các bài trước

-  Sâu bệnh hại đậu tương và biện pháp phòng trừ
-  Quy trình bón phân thần nông minh châu cho dưa hấu
-  Thuốc MEKOBEXIDE - 80%
 
BÀI VIẾT TIÊU BIỂU

Kinh nghiệm nâng cao năng suất và phẩm chất ớt vụ xuân hè

 Vụ xuân hè là vụ trồng có tiềm năng năng suất cao với nhiều giống ớt. Song, việc chăm sóc và BVTV cho cây ớt ở vụ nàycần phải rất cẩn trọng mới nhằm mang lại một kết quả khả quan với tiềm năng vốn có của vụ trồng. Xin chia sẻ một số kinh nghiệm để phát triển ớt xuân hè như sau:

Chi tiết >>


Kinh nghiệm nuôi gà thịt hiệu quả

 Nuôi gà thịt trong nhiều năm gần đây thường gặp rất nhiều khó khăn do giá cả không ổn định. Nhiều thời điểm giá gà thịt tụt dốc thê thảm khiến cho người nuôi lỗ lớn. Song, với những kinh nghiệm và khả năng nắm bắt được mức tiêu thụ của thị trường, một số khuyến nông viên cơ sở huyện Nam Sách, Hải Dương đã không hề bị thua lỗ trong việc nuôi gà thịt. Họ vẫn thu về từ 45-50 triệu đồng mỗi lứa 1000 con. Doanh thu hàng năm trung bình từ 135 -150 triệu đồng từ việc nuôi gà thịt. Xin chia sẻ kinh nghiệm của họ để người chăn nuôi tham khảo.

Chi tiết >>


Dịch hại cần chú ý vụ hè thu

Để quản lý cỏ dại trong vụ HT, cần lưu ý các biện pháp: Giống sạch cỏ. Sạ, cấy mật độ thích hợp (120 - 150 kg/ha ở ĐBSCL). Cày, bừa kỹ, trang bằng mặt ruộng.

Chi tiết >>


Phòng trị bệnh đầu đen ở gà

 Bệnh đầu đen hay bệnh viêm gan ruột truyền nhiễm ở gà, bệnh kén ruột thừa do một loại đơn bào có tên khoa học là Histomonas Meleagridis ký sinh ở gan, dạ dày và ruột thừa (manh tràng) gây ra.

Chi tiết >>


Phòng bệnh tổng hợp cho cá

 Đối với lồng bè nuôi cá, có thể dùng nước vôi loãng, quét trong và ngoài để khử trùng. Kích lồng lên cạn, dùng nước vôi quét trong và ngoài lồng, phơi khô từ 1 - 2 ngày.

Chi tiết >>


Một số kinh nghiệm nuôi vịt thả đồng

Chọn vịt con: phải chọn vịt “nóng” tức là vịt mới nở vừa ráo lông, chân láng, lông đuôi thẳng, rốn khô nhẹ chứng tỏ vịt nở đúng ngày. Tránh vịt “nguội” khô chân, rốn ướt, chéo mỏ rất khó nuôi, tốn hao nhiều.

 

Chi tiết >>


Kỹ thuật trồng, chăm sóc chuối lùn

Trong những năm gần đây, cây chuối lùn là sự lựa chọn để phát triển kinh tế của nhiều hộ bà con ở xã Yên Mỹ, huyện Lạng Giang, Bắc Giang.

Chi tiết >>


Kỹ thuật trồng ớt ngọt theo hướng an toàn

 Ớt ngọt (Capsicum annum L.) là cây ưa nhiệt, nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển của cây ớt là 25 - 28 độ C ban ngày và 18 - 22 độ C ban đêm. Cây ớt cần nhiều ánh sáng, nếu thiếu ánh sáng nhất là thời kỳ ra hoa thì sẽ làm giảm tỷ lệ đậu quả.

Chi tiết >>


Bệnh thán thư hại khoai sọ

 Năm nay, nấm bệnh đã phát sinh phá hại nặng trên cây khoai sọ ở miền Bắc, hình thù vết gây hại giống như trên quả ớt bị bệnh nên bà con nông dân gọi là bệnh "thán thư".

Chi tiết >>


Bón phân đón đòng cho lúa chiêm xuân

 Lúa chiêm xuân đang trong giai đoạn từ đẻ nhánh rộ đến cuối đẻ nhánh. Bà con nông dân cần phải có kỹ thuật chăm sóc và chăm bón tốt mới đạt một mùa vụ bội thu.

Chi tiết >>


SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HẢI DƯƠNG