SO KHOA HOC CONG NGHE - KIEN THUC NONG NGHIEP
Thursday, September 21, 2017
Kỹ thuật nuôi và vỗ béo trâu thịt   -   Kinh nghiệm thâm canh cây ăn quả có múi   -   Trừ cỏ ở má luống hành   -   Trừ bệnh sương mai hại cà chua sớm   -   Công ty TNHH Một thành viên giống cây trồng Hải Dương đã nghiên cứu ra hai giống lúa NB01 và lúa nếp DT22. Hai giống lúa này ngắn ngày, kháng bệnh tốt và mang lại năng suất cao.   -   3NTV-VTC16: Làm giàu từ nuôi thỏ ngoại   -   Xử lý phèn trong ao mùa mưa   -   Kinh nghiệm nâng cao năng suất và phẩm chất ớt vụ xuân hè   -   Kinh nghiệm nuôi gà thịt hiệu quả   -   Dịch hại cần chú ý vụ hè thu   -   Phòng trị bệnh đầu đen ở gà   -   Phòng bệnh tổng hợp cho cá   -   Một số kinh nghiệm nuôi vịt thả đồng   -   Kỹ thuật trồng, chăm sóc chuối lùn   -   Kỹ thuật trồng ớt ngọt theo hướng an toàn   -   Bệnh thán thư hại khoai sọ   -   Bón phân đón đòng cho lúa chiêm xuân   -   Kỹ Thuật Trồng Nấm Rơm   -   Sử dụng phân bón lá cho lúa   -   Phòng trừ chuột hại lúa xuân   -   Những vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đối với ao nuôi thủy sản   -   Nhện gié hại lúa   -   Nấm đối kháng hạn chế rau màu héo rũ   -   Bệnh héo tươi, héo xanh trên ớt   -   Bệnh loét hại cây có múi và biện pháp phòng trừ   -   Để vườn cam sành lâu cỗi   -   Kỹ thuật trồng cải bắp   -   Bón thúc cho lúa đẻ nhánh ở vụ xuân   -   Khắc phục lúa gieo thẳng chậm ra lá   -   Kinh nghiệm nuôi gà Đông Tảo   -   Nhân giống chuối tiêu hồng bằng công nghệ nuôi cấy mô   -   Chủ động chống rét cho cây trồng, vật nuôi   -   Cần chính sách mới cho thủy sản theo GAP   -   Lưu ý khi nuôi chim trĩ   -   Bệnh đạo ôn   -   Chống rét cho mạ và chăm sóc lúa   -   Cảnh giác thương lái Trung Quốc mua lá khoai lang   -   Trồng và chăm sóc vườn cây ăn quả bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm   -   Khẩn trương chống rét cho mạ và lúa xuân   -   Kỹ thuật nuôi chạch đồng   -   Kỹ thuật diệt chuột   -   Trồng rau trong hộp xốp   -   3 giống hoa đào   -   Quản lý sức khỏe tôm nuôi khi chuyển mùa   -   Chăm củ cải trắng vụ đông   -   Ương dưỡng tôm giống trước khi nuôi   -   Lưu ý khi lưu giữ cá giống qua đông   -   Cho hành lá thêm xanh   -   Nấm bệnh héo rũ hại hành   -   Bệnh héo rũ Panama hại chuối và biện pháp phòng trừ   -   Trồng khổ qua không khó   -   Để nuôi cá chép giống V1 đạt năng suất 2 tấn/ha   -   Tăng cường phòng chống dịch lở mồm long móng   -   Nuôi ong lấy mật - cải thiện kinh tế hộ gia đình   -   Bón phân hợp lý cho cây chè ở miền núi phía Bắc   -   Biện pháp hạn chế hao hụt lươn khi mới thả giống   -   Ủ chua cỏ xanh để nuôi trâu, bò   -   Sản xuất lươn giống   -   Để dưa leo không bị đắng   -   Nhận diện "công nghệ" SX thuốc BVTV giả   -   Nấm sò và kỹ thuật nuôi trồng   -   Chăm sóc rau màu khi gặp thời tiết bất lợi   -   Giảm thiểu tỷ lệ chết héo rũ cho hành vụ đông   -   Quy trình trồng khoai tây bằng phương pháp làm đất tối thiểu có phủ rơm rạ   -   Nấm bệnh hại bí xanh   -   Kinh nghiệm nâng cao năng suất, chất lượng củ đậu thu đông   -   Cách nhận biết bệnh thán thư hại rau màu   -   Chọn giống đu đủ cho nhiều quả   -   Thức ăn có sẵn cho cá nước ngọt   -   Hướng tới công nghệ chăn nuôi không phân   -   Hướng dẫn gieo trồng giống ngô Nếp lai F1 HN88   -   Cách phòng, chống dịch cúm gia cầm   -   Bí quyết nuôi cá trắm đen kiếm lời   -   Tự trồng rau gia vị tại nhà   -   Sản xuất giống cá trắm cỏ chính vụ   -   Một số điểm cần lưu ý trong chăn nuôi thỏ   -   Bệnh nấm phổi trên vịt   -   Một số lưu ý trước khi vào vụ nuôi tôm xuân hè 2013   -   Cách phòng trừ bệnh đạo ôn trên lúa xuân   -   Kỹ thuật trồng hành củ, hành hoa an toàn   -   Lưu ý khi sử dụng vôi và hóa chất cho ao nuôi   -   Đậu tương DT51 có thể trồng 3 vụ/năm   -   Sản xuất thành công khoai tây siêu nguyên chủng   -   Một số biện pháp chủ yếu chăm sóc và bảo vệ lúa chiêm xuân năm 2013   -   Lưu ý bón thúc đẻ nhánh lúa chiêm xuân   -   3 bước chống dịch lợn tai xanh   -   Sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi thỏ   -   Một số biện pháp hạn chế tôm chết trong quá trình thả nuôi   -   Bệnh dịch tả vịt   -   Nuôi cá chạch - Hướng mới nhiều triển vọng   -   Trồng dong riềng xen ngô lãi lớn   -   Chăm sóc lúa xuân đúng cách   -   Kỹ thuật trồng lại đào sau tết   -   Nhiều lưu ý về sản xuất vụ đông xuân   -   Lợn “tên lửa” dễ nuôi, dễ bán   -   Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính trên gia cầm   -   Nuôi bồ câu gà   -   Giống dưa leo Cúc 71   -   Hiện tượng heo cắn đuôi nhau   -   Bí quyết trồng cam đường Canh kiếm tiền Tết   -   Chế phẩm từ vi khuẩn giúp tăng năng suất cây lạc   -   Phòng trừ bọ nhảy ở rau cải   -   Quy trình sản xuất cây bí xanh theo tiêu chuẩn VietGAP   -   Kỹ thuật phòng và trị bệnh trong nuôi trồng thủy sản   -   Những điểm cần lưu ý khi nuôi cá rô đồng   -   Cách nhận biết hải sản bị ngâm ướp urê   -   Kỹ thuật trồng củ cải   -   Nhận biết bệnh cúm gia cầm   -   Làm chuồng úm chống rét cho lợn sữa   -   Cách làm đào nở hoa đúng tết   -   Trồng và chăm sóc rau màu khi rét đậm   -   Cách nhận biết bệnh vi-rút trên rau   -   Hướng dẫn biện pháp diệt chuột   -   Hạn chế mạ chết từng chòm   -   Một số lưu ý khi phân biệt 4 bệnh đỏ ở lợn   -   Những giải pháp đào ao thả cá đầu tư thấp   -   Một số lưu ý để nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi gà   -   Bảo quản và sử dụng vắc xin trong chăn nuôi   -   Khẩn trương cày ải phơi đất   -   Chủ động phòng chống rét cho trâu bò   -   Sử dụng thuốc BVTV theo khuyến cáo   -   Bí quyết phòng trừ phi hóa dịch hại trong vườn   -   Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cà chua   -   Bệnh cúm gia cầm và biện pháp phòng trị   -   Giống đậu tương cao sản DT51   -   Hiệu quả từ nuôi gà nòi chân vàng   -   Chăm sóc, quản lý tôm cá trong mùa rét   -   Phòng và điều trị bệnh nấm phấn đen ở chuối   -   Sản xuất gạo nhân tạo   -   Bệnh hại trên cây khoai tây, cà chua và biện pháp phòng trừ   -   Sâu bệnh hại trên cây dưa chuột và biện pháp phòng trừ   -   Mở rộng sản xuất trà xuân muộn   -   Nuôi trồng, khai thác thủy hải sản   -   Công nghệ sản xuất mạ khay   -   Cách ngăn ngừa dưa chuột đắng   -   Ngăn ngừa ô nhiễm nước và phòng bệnh cho cá   -   40% mẫu gà có dư lượng kháng sinh và chất cấm   -   Ngô không hạt - nguyên nhân và cách khắc phục   -   5 giống đậu tương năng suất cao   -   Bí đỏ dễ trồng, không kén đất   -   Xử lý hạt giống rau trước khi gieo   -   Nuôi trồng thủy sản theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia   -   Nên trồng ngô nếp lai F1 - HN88   -   Gà ri vàng rơm   -   Nhân giống nhanh cây đu đủ   -   Trồng lạc vụ đông bằng phương pháp phủ nylon   -   3 giống bí xanh cho vụ đông   -   Khắc phục hành thối nhũn   -   Bệnh chạy dây bí xanh   -   Nuôi cua lãi hơn trăm triệu   -   Những điểm cần lưu ý khi nuôi cá rô đồng   -   Kỹ thuật nuôi cá chình thương phẩm trong ao   -   Thụ tinh nhân tạo giống gà ri   -   Bí quyết để hoa hồng ra hoa nhiều vào ngày tết   -   Để giá trị khoai lang tăng cao   -   Đã có vacine khống chế virus cúm gia cầm mới   -   Một số lưu ý khi sử dụng vaxin phòng bệnh cho gia súc, gia cầm   -   Phòng và trị bệnh cho động vật thủy sản trong mùa mưa lũ   -   Trồng khoai lang Thu Đông hiệu quả   -   Trồng khoai tây bằng phương pháp làm đất tối thiểu   -   Kỹ thuật nuôi cua đồng   -   Dùng phương pháp cấy mô để nhân giống chuối già lùn   -   Nhân giống khoai tây bằng nuôi cấy mô và công nghệ trồng không cần đất   -   Hướng dẫn sử dụng vắcxin cúm gia cầm đúng cách   -   Điều khiển nhãn ra hoa rải vụ   -   Hỗ trợ đổi mới chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học   -   Trồng cam sành theo hướng sạch, an toàn   -   Cách xử lý bệnh chổi rồng trên nhãn   -   Để bí xanh trái vụ bền cây, sai quả   -   Kỹ thuật trồng cà chua   -   Nuôi ngan thịt chọn giống và chuẩn bị   -   Chi Lăng Nam: Biến tiềm năng thành hiện thực   -   Sẽ có Nghị định về tích tụ ruộng đất   -   Nghị quyết BCH Trung ương lần thứ 7 (khoá x) về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn   -   Cải tiến đàn Bò   -   Kỹ thuật chăm sóc một số hoa Lan   -   CHẠM KHẮC GỖ ĐÔNG GIAO
12:56

KIẾN THỨC NÔNG NGHIỆP

Tin tức hàng ngày

Trồng trọt

Chăn nuôi

Thủy sản

Chế biến, bảo quản NS

Làng nghề

Kỹ thuật mới

Mô hình sản xuất

Thị trường

Chính sách hỗ trợ

Khoa học thưởng thức

Hỏi đáp về KHCN

Video về Nông nghiệp

TÌM KIẾM THÔNG TIN
  

Số lần truy cập
14745056

CHẠM KHẮC GỖ ĐÔNG GIAO

( Thời gian đăng : 21:49:40 18/02/2009 )     

Mỗi khi có dịp vào thăm bảo tàng hay các công trình kiến trúc cổ, chúng ta lại được chiêm ngưỡng những tác phẩm điêu khắc của cha ông. Trải bao năm tháng binh lửa, thiên tai, hư hại, mất mát đã nhiều, nhưng chỉ riềng những hiện vật còn lại cũng đủ nói lên tài năng sáng tạo, óc thẩm mỹ, trí tưởng tượng phi thường của nghệ nhân những thế kỷ trước.

       Nhiều di vật được bảo tồn gần như nguyên vẹn những nét chạm sắc sảo, tinh vi, nhờ nước sơn ta, nước sơn Việt Nam, chế tạo từ thảo mộc, tinh luyện trong lịch sử, qua hangg thế kỷ cũng không phai màu, biến sắc. Ai là tác giả của những tác phẩm ấy? Nghệ nhân xưa đã gửi gắm tâm hồn và nghị lực vào từng đường nét, hoa văn, hy vọng truyền đạt tình cảm và tài năng cho hậu thế, nhưng ít khi khắc tên, họ mình vào tác phẩm. Ngược dòng lịch sử, chúng ta biết ở tỉnh Đông có một làng chuyên chạm khắc các loại đồ thờ và trang trí, các loại đồ dùng cao cấp bằng gỗ như làng Phù Khê xứ Kinh Bắc. Đây là những mặt hàng có nhu cầu rất lớn dưới thời đại phong kiến phục vụ cho các công trình công cộng và từng gia đình nông thôn cũng như thành thị. Nhiều khi từ mục đích phục vụ trang trí và tín ngưỡng mà khách quan tạo ra những tác phẩm điêu khắc có giá trị.

          Từ  Quán Gỏi theo đường 38, ngược lên phía bắc hai cây số, chúng ta đến một làng quê đầy sức sống. Hàng loạt nhà mới xây to đẹp, nhiều nhà tầng như biệt thự ở thị thành; Công trình công cộng khang trang; trước những mái tranh, vật liệu xây dựng đầy sân, chật ngõ, bên ngôi đình cổ chợ phiên nbào cũng tấp lập, đủ mặt hàng thiết yếu cho sinh hoạt gia đình. Khắp làng, suốt ngày không ngớt tiếng cưa, đục của thợ chạm, thợ khảm, trước mái hiên, dưới bóng cây, thợ trẻ, thợ già, tụm năm, tụm ba, nam có, nữ có, cần mẫn làm việc, khách mua hàng cười nói hả hê, khiêng võng tủ ngược xuôi nhộn nhip. Đây chình là Đông Giao, Quê hương của những nghệ nhân chạm gỗ cổ truyền.

Đông Giao thời Lê là một xã của tổng Mao Điền, huyện Cẩm Giàng, phủ hượng Hồng, trấn Hải Dương, cuối thời Nguyễn vẫn đứng riêng một xã gồm ba thôn Sở, Chay và Đông Tiến. Năm 1948, thực hiện liên xã, Đông Giao thuộc xã Lương Điền, huyện Cẩm Giàng.
Đông Giao còn một ngôi đình lớn, văn bia cho biết, khởi dựng từ năm Vĩnh Hựu thứ tư (1739), do một viên quan nội giám người làng hưng công. Đến năm 1939, thợ Quân Hiền (Nam Định) lại giúp làng trùng tu, đến nay đình vẫn còn vững chãi. Đình thờ một vị tướng thời tiền Lý chống quân Lương (thế kỷ 6). Trước đình, xưa có ngôi miếu thờ ông tổ nghề chạm, hàng năm, xuân thu nhị kỳ những người thợ chạm vào hàng cuộc làm lễ tế tổ để biết ơn người dạy nghề cho làng. Miếu nay đã mất, thần tích cũng không còn. Cuối làng còn một ngồi nghề, như một bảo tàng nhỏ, lưu trữ các hiện vật do thợ làng điêu khắc như: Ngai, khám, hương án, bát biểu, hòm sắc…Đặc biệt có đôi long mã, lớn gần bằng ngựa thật, điêu khắc công phu. Nhiều người còn nhớ họ tên của một số nghệ nhân sáng tạo những hiện vật nói trên.  
Nghề chạm gỗ ở nước ta nổi tiếng từ thời Lý- Trần. Những bức chạm ở thượng điện chùa Thái Lạc, (Lạc Hồng, Mỹ Văn), cánh cửa chùa Phổ Minh (Hà Nam)… là những bằng chứng hùng hồn về tài năng điêu khắc của nghệ nhân thời lý huy hoàng ấy. Trong bản mục lục lưu ở nghề, soạn vào cuối thể kỷ 18, bằng chữ Nôm đã thấy nói đến nghề chạm ở Đông Giao (2), chứng tỏ nghề chạm ở đây muộn nhất cũng phải xuất hiện vào thời Lê. Đầu thời Nguyễn, một số thợ khéo được triệu vào Huế, xây dựng kinh đô, trong đó có cụ Thuyến là thợ tài ba. Những thợ này mỗi năm chỉ được về thăm quê vào dịp tết. Do phải làm việc nhiều năm xa nhà, họ đã định cư tại Huế (3). Thợ Đông Giao chuyên làm các loại đồ thờ và vật trang trí bằng gỗ như: Ngai, ỷ, bài vị, long đình, hương án, bát biểu, đao, kiếm, kiệu, song loan, cưa võng, cuốn thư, hoành phi, câu đối voi ngựa…và một số đồ dùng gia đình: Sập tủ, tạng. Họ không làm đình chùa hay tạc tượng. Làm đồ thờ cúng chỉ chạm phần mộc là chính, còn sơn, khảm, thếp vàng nhờ thợ bạn ở các làng Liêu, Kiệt, Nguyên Khuê, Kim Quan, An Lại… cùng huyện làm tiếp. Phần lớn đồ thờ trong tỉnh và các tỉnh miền Đông Bắc do thợ làng Đông Giao điêu khắc. Thợ Đông Giao ít khi làm việc tại nhà, một phần do ít vốn, một phần còn phụ thuộc yêu cầu người sử dụng. Thông lệ, hàng năm vào hạ tuần tháng giêng, sau hội làng xong, thợ cả đi tìm việc, nhận việc, nhiều khi khách đên làng tìm thợ. Nắm chắc việc làm, thợ cả về làng tìm thợ bạn. Trong số thợ bạn phải có thợ đầu cánh, thông thạo từng loại việc, đủ khả năng vẽ mẫu và chỉ huy thợ phụ. Công việc chạm khắc công phu, tỉ mỉ, việc nhỉ cũng phải mất hàng tháng, việc lớn cả hiệp phải mất hàng năm, thợ phải ăn ở tại nơi làm việc.
Gỗ dùng chạm khắc gồm nhiều loại, tuỳ theo mặt hàng mà chọn gỗ thích hợp. Yêu cầu chung là gỗ phải bền chắc, ít cong vênh, nứt rạn, không mọt, khó mối, dẻo mịn, dễ chạm và đánh bóng. Có như thế mới tương xứng với công chạm sơn, khảm, thếp. Những vật lớn, chịu lực cao như án thư, đòn bát cống… dùng gỗ dổi. Gỗ dổi nhẹ hơn lim, cứng chắc ít cong vênh, không mọt. Chạm những vật nhỏ nhẹ hoặc làm ván bưng các loại đồ thờ thường dùng vàng tâm. Vàng tâm nhẹ hơn dổi, không mọt nhưng chịu lực kém. Chạm những thứ uốn lượn cầu kỳ, chịu lực cao, có khi không sơn, chỉ quang dầu, đánh bóng như giá chiêng, lèo, bệ tủ, chân sập dùng gỗ mun, gỗ gụ…
Chọn gỗ xong, tiến hành, xẻ, cắt, đẽo, bào…tạo dáng đúng quy cách. Vẽ mẫu trên giấy bản, in vào gỗ rồi bắt đầu chạm khắc. Nhiều thợ lành nghề thuộc lòng các đề tài, chỉ cần phác các nét chính, đăng đối, đúng kích thước là có thể chạm đâu được đấy. Vật chạm khắc không phải bao giờ cũng thể hiện được trên một khúc gỗ, thông thường phải lắp ghép nhiều chi tiết bằng các loại mộng. Để đảm bảo cho các chi tiết liên kết với nhau bền chắc, phải mồi sơn ta vào các lỗ mộng hoặc chốt đinh tre, đinh đồng. Những chi tiết chênh bong thường được chạm rời đắp lại bằng mộng và sơn để tiết kiệm gỗ, khắc phục loại gỗ nhỏ và tạo điều kiện thuận lợi khi thể hiện. Tuỳ mặt hàng phải chạm khắc bốn mặt hay một mặt. Long đình phải chạm bốn mặt, hương án chạm 3 mặt, cũng có khi cần mặt trước.
Đề tài chạm khắc trên một số đồ thờ thường là tứ linh.: Long, ly, quy, phượng; tứ quý: Thông, mai, cúc, trúc, hoặc trích các tích trong kinh Phật hay truyện cổ. Các hoạ tiết phải đăng đối, cân xứng. Những thiếu xót của thợ chạm, thợ sơn có thể bổ khuyết, hơn nữa còn thêm vào một số chi tiết, màu sắc mà thợ chạm không thể hiện được. Sơn làm cho đồ gỗ bền và đẹp hơn, cùng với sơn phải kèm kỹ thuật khảm trai hoặc xà cừ, thếp vàng hoặc bạc. Nền khảm trai, xà cừ thường để mộc, đánh bóng hoặc sơn then (đen). Nền thếp vàng thường sơn son… Nhiều tác phẩm trạm khắc của nước ta trải qua 3, 4 thế kỷ, nóng ẩm nhiệt đới mà gỗ vẫn chắc, nước sơn mịn màng, tươi màu như mới.
Dụng cụ trạm khắc đồ thờ và tủ tạng không to khoẻ như dụng cụ làm đình, gồm một tập hợp các loại đục, vụm nhỏ, nhẹ, sắc bén, đa dạng, do một số thợ rèn am hiểu nghề chạm sản xuất. Mỗi người thợ chạm phải có vài chục dụng cụ khác nhau như đục, vụm, chàng, bạt…khi chạm, dụng cụ được bày trên mảnh vải trước mặt từng hàng, người thợ chỉ nhìn qua một lượt là tìm ngay được thứ cần thiết,
Muốn làm được nghề chạm, dù chỏ là chạm khắc các loại đồ thờ, phố nhỏ ngày xưa phải học việc hàng chục năm mới chắc tay nghề. Biết chạm tồi lại phải nhớ các lối, các hoạ tiết, các đề tài. Học nghề chạm khó hơn nhiều nghề thủ công khác, thuộc nghành kỹ thuật kiêm mỹ thuật cao, có sức khoẻ chưa đủ, phải kiên trì cần mẫn, tinh tế, nghiêm túc, có khả năng tái tạo đúng mẫu và sáng tạo mẫu mới. Hoàn thành một bức chạm mất hàng tháng là chuyện bình thường, nếu không kiên trì không làm nghề chạm được. Thợ chạm Đồng Giao xưa tuy nghề có tinh nhưng chẳng mấy mấy lúc được tôn vinh. Công không phải lúc nào cũng cao, thường xuyên phải sống xa nhà, đi lại tiêu pha cũng tốn, người thợ chỉ cáng đáng được một phẩn trong sinh hoạt gia đình. Nếu sa vào chiếu bạc thì công sức một năm bay trong một tối là thường. Có nghề chạm nhưng vẫn phải lấy nghề nông làm gốc. Nhưng đồng ruộng Đông Giao bạc màu, chiêm khê mùa thối, mỗi vụ một sào chỉ thu 30-40kg, đời sống bấp bênh. So với những nơi có nghề thủ công thì làng thợ Đông Giao xưa đời sống không cao.
Cách mạng tháng Tám thành công , tiếp theo là ba mươi năm chiến tranh ác liệt, hoà bình chỉ là cục bộ. Đồ thờ, đồ chạm khắc trang trí chỉ là hiện vật bảo tàng, không ai mua sắm và bị tiêu huỷ phần lớn. Sập gụ, tủ chè ít người nghĩ tới mà còn là đối tượng đả kích, coi đó là lối sống cổ hủ, lỗi thời. Thợ chạm Đông Giao thất nghiệp, số đông về làm ruộng, số ít chuyển sang đóng tủ, bàn ghế thông dụng, cốt sao bào sơn đóng bén, phù hợp với cuộc sống giản dị thời chiến và còn nhiều khó khăn của nhân dân. Lớp trẻ không ai quan tâm đến nghề chạm, họ khâm phục tài năng của ông cha, song vẫn coi như một nghề đã chết. Thợ già không có đất dụng võ, thỉnh thoảng chạm chiếc lèo tủ để luyện tay nghề, bán được chăng hay chớ. Ngày qua tháng lại, lớp thợ lão luyện vắng dần, nghề nghiệp mai một, đang có nguy cơ thất truyền, thì đất nước hoàn toàn giải phóng. Biên giới còn đổ máu, nhưng Tổ quốc đã hoà bình, thống nhất tạo cho mọi nhà yên tâm xây dựng. Cuộc sống vật chất chưa cao, nhưng nhiêu gia đình đã có của ăn của để, có điều kiện mua sắm vật dụng gia đình không chỉ thực dụng mà còn có chức năng trang trí, khơi dậy nếp sống văn hoá và truyền thống. Tủ buyp phê, Tủ Đức, tủ bằng, tủ lệch…kiểu nào cũng một hai năm là lạc hậu. Dân gian, nhất là nông thôn quay lại vơi tủ chè -tủ văn tiến, loại tủ cổ điển của dân tộc. Sức mua mặt hàng này tăng nhanh chưa từng có trong lịch sử.
Nghề làm tủ chè không phải làm nghề chính của Đông Giao, nhưng do nhu cầu xã hội thúc đẩy, nghề chạm Đông Giao sống lại và phục hưng nhanh chóng. Từ chạm khắc đồ thờ chuyển nhanh sang chạm tủ chè. Chỉ trong tám năm, từ 4-5 nghệ nhân cao tuổi đã đào tạo lên một đội ngũ thợ chạm lớn mạnh với nhiều thợ trẻ đầy triển vọng. Một yếu tố không kém phần quan trọng tạo điều kiện cho nghề chạm ở đây phát triển là, từ ngày khoản sản phẩm năng suất, sản lượng lúa tăng gấp đôi mức bình thường, thanh toán được nan giáp hạt và hoàn thành mọi nghĩa vụ với Nhà nước, chủ động việc đồng áng tạo cho người thợ yên tâm làm nghề cổ truyền. Năm 1983, Đông Giao có 364 hộ 1.725 khẩu thì có tới 97% gia đình làm nghề chạm với ngót 400 thợ già, trẻ, nam, nữ. Đến Đông Giao nhiều người ngạc nhiên khi thấy những chiếc lèo tủ hoa văn mềm mại, chênh bong lại do lớp thanh niên tạo ra. Nhiều em 9-10 tuổi đã chạm thành công những bức chạm phức tạp. Đặc biệt hơn là có những nữ thanh niên chạm lèo, bệ không kém thợ lành nghề và long tủ thành thục - công việc phức tạo nhất quyết định chất lượng mặt hàng. Đây là nét mới của nghề chạm, nét mới của Đông Giao. Ngày xưa, có phụ nữ đi theo các hiệp thợ chỉ là nấu cơm, đi chợ, chưa thấy ai chạm khắc. Lớp thanh niên vào nghề với tốc độ phi thường, đúng với phẩm chất của con người có văn hoá, sinh ra trên đất nghề. Nghệ nhân lão thành nhận xét: Lớp trẻ vào nghề 5 năm bằng các cụ ngày xưa theo nghề 20 năm. Tác phẩm của họ sắc sảo và có nhiều nét sáng tạo không còn tình trạng giấu nghề. Lớp thợ già đặc biệt quan tâm đến lớp thợ trẻ. Sáng sáng thợ trẻ, thợ già đến thăm nhau, học hỏi từng nét chạm, từng hoa văn, từng sáng tạo nhỏ nhất. Chim thú. hoạ tiết trong bản mẫu, nhờ bàn tay người thợ trở thành vật sinh động, giống nhau trên đại thể, khác nhau từng chi tiết tạo nên đặc điểm riêng của từng tác giả. Qua bàn tay tài hoa, động tác chính xác, làm đâu được đấy, với trí nhớ đặc biệt và sự kiên nhẫn hiếm có của người thợ, chim muông hoa lá như chui ra từ một súc gỗ mộc mạc, sù sì, để lại các xác nát vụn, gồm những mảnh gỗ dị hình.
Tủ chè là mặt hàng chính của Đông Giao hiện nay. Theo truyền thống, nguyên liệu đóng tủ là gỗ gụ. Gụ là loại gỗ quý, bền chắc, không mối mọt, cong vênh, thớ mịn, dẻo quanh, chịu lực khoẻ, chạm các chi tiết mảnh dẻ vẫn không sứt. Gỗ có màu nâu đậm, để lâu ngả màu nâu đen. Đồ dùng bằng gụ thường xuyên lau chùi sẽ láng bóng như sừng. Gỗ gụ nay hiếm, người ta thay bằng lim và lát. Lèo bệ có thể làm bằng gỗ nhãn hoặc xà cừ. Dù đánh bằng gỗ gì cũng phải đánh dầu để có màu gụ. Màu gụ trở thành đặc điểm của tủ chè. Tủ hiện nay thoáng rông hơn trước, phù hợp với quy mô nhà hiện đại. Kích thước thông thường: Dài 180cm, rộng 45cm cao 55cm, cả bệ cao 76m sai số không đáng kể. Về hình thức cũng rất ổn định. Tủ có 3 buồng, buồng giữa rộng gần hai bên buồng bên, phía trong có một ngăn hẹp, để các vật trang trí, phía ngoài có một giải hoa văn đăng đối chạy hết điểm trên và nửa các cạnh bên gọi là lèo. Cửa buồng giữa lồng kính, mở bằng cách đẩy sang hai bên. Hai buồng bên lắp cánh gỗ phẳng hoặc cong. Làm cánh cong phải xẻ ván mỏng mới mùa vào khung được. Trên hai cánh là nơi trang trí bằng vỏ trai hoặc xà cừ (4). Phần đế đóng liền với tủ gọi là bệ, đây cũng là bộ phận điêu khắc cầu kỳ. Hoa văn trang trí của các bộ phận đều đăng đối. Dưới đây là các đề tài thường chạm trên tủ chè:
- Lèo: ở giữa: Hoa hồng, phù dung, chim trĩ, hai bên cài nho sóc.
-Sư tử hý cầu, hai bên anh hùng tương ngộ, cài hoa lá
- Ngũ phúc ngậm chữ thọ, hai bên hoa lá.
Bệ: Mai cuốn thuỷ, trúc hoá long, ngũ phúc, triện thọ đỉnh, sư tử hý cầu… Bệ chạm khắc ba mặt: trước và hai bên.
Đề tài khảm trên hai cánh đa dạng, nội dung phong phú, phần lớn là những cảnh trong truyện cổ Trung Quốc, một số ít đề tài lịch sử và truyện cổ Việt Nam. Kèm theo hình hoạ thường có thơ hoặc vài chữ hán thuyết minh như:
- Ngũ Lão bát tiên
- Tam anh chiến Lã Bồ
- Văn Vương cầu hiền,
- Bát tiên quá hải.
- Tam quốc thảo lư
- Trúc lâm thất hiền
- Ngũ tử vinh quy
- Tam bích đồ thư (đề tài này công giáo ưa chuộng)
- Ngư tiều canh độc
- Giang tả cầu hôn
- Kim Trọng- Thuý Kiều
Gần đây có một số đề tài lấy lịch sử dân tộc được nhiều người chú ý.
Thợ Đông Giao không khảm trai, người làng Chuyên Mỹ, tục gọi là làng Chuôn (Phú Xuyên, Hà Tây) thực hiện công việc này. Khảm trai cũng khá phức tạp: Chọn vật liệu phù hợp với đề tài, tách, mài vỏ trai và xà cừ; cưa, dũa, vẽ, khảm, đánh bóng. Người làng Chuôm khảm trai cũng như người Đông Giao chạm khắc, trẻ già, trai gái đều làm thuần thục, thuộc lòng các đề tài. Trước đây công việc còn ít, người làng Chuôn thường sang lấy cánh về khảm, khảm xong lại mang đến Đông Giao trả hàng. Từ ngày sản xuất nhiều, chuyên chở tốn kém và dễ gây xây xát thành phẩm, từng nhóm thợ khảm đến Đông Giao, khảm tủ tại chỗ, tạo điều kiện cho người đóng tủ và mặt hàng.
Để hoàn chỉnh một cái tủ bao gồm có phần việt: Xẻ gỗ, chạm lèo, chạm bệ, đóng cánh, khảm trai, long tủ, đánh dầu. Long tủ là lăp ráp hoàn chỉnh cái tủ gồm, cả việc đóng khung, long ván. Số đo của khung, bệ, lèo cánh phải chính xác, nếu không sẽ gây khó khăn lớn cho người long và các hoạ tiết không ăn khớp với nhau. Người long tủ phải có tay nghề vững và hiểu biết toàn diện về các chi tiết hợp thành cái tủ. Thực hiện các phần việc của một cái tủ ở Đông Giao đã được chuyên môn hoá nhưng chưa sâu
Đóng một cái tủ loại trung bình nhất 35 công thợ, chưa kể khảm trai. Với lực lượng sản xuất hiện có, mỗi ngày Đông Giao có thể sản xuất hoàn chỉnh 10 tủ. Năm 1983, giá một tủ loại trung bình 8.000 đồng, trừ tiền mua nguyên liệu, thợ thu về tiền công khoảng 40% giá bán. Cùng với bán tủ hoàn chỉnh. Đông Giao còn bán từng bộ phận như lèo, bệ, cánh cho thợ mộc các nơi có khả năng long tủ. Tủ chè Đông Giao đã có giá, việc mua và bán tại đây đều thuận lợi. Một số thợ trong vùng đóng được tủ chè thường mang đến Đông Giao gửi bán.
Nhờ khôi phục nghề cổ truyền với cách làm ăn mới trong nông nghiệp, đời sống làng thợ Đông Giao được cải thiện nhan, nhất là nhà ở và tiện nghi sinh hoạt gia đình. Nghề thủ công thu hút hầu hết lực lượng nam giới, công việc đồng áng, trừ ngày mùa còn đâu là nữ giới lo liệu, tuy thế mọi việc vẫn chạy đều. Đời sống người thợ chạm Đông Giao chưa bao giờ ổn định như hiện nay. Họ say mê làm việc suốt ngày, có khi chạm khắc đèn cả buổi tối. Mọi người đều có việc làm, yên tâm với nghề nghiệp, tạo nên cuộc sống lành mạnh, hạn chế nhiều hiện tượng tiêu cực vốn sinh ra từ những nơi vô công, rồi nghề.
Chạm khắc là một nghề có giá trị kinh tế và văn hóa cao, cần được phục hồi và phát huy đúng hướng. Nghề chạm của Đông Giao phục hưng là rất đáng mừng, song còn mang tính tự phát, thiếu sự hướng dẫn và tổ chức của tập thể và Nhà nước. Nghề chạm ở đây, ngoài mặt hàng hiện có, còn có khả năng khai thác trên nhiều lĩnh vực khác với nội dung và hình thức phong phú hơn, tạo ra những mặt hàng mỹ nghệ phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, chắc chằn sẽ mang lại lợi ích lớn hơn cho địa phương và đất nước. Thu hút phụ nữ vào nghề chạm là điều cần quan tâm, thực tế cho thấy phụ nữ làm nghề này là thích hợp và tác phẩm của họ không thua kém nam giới trên nhiều phần việc.
Qua nghề chạm ở Đông Giao, chứng minh rằng, với tri thức văn hoá hiện đại, chúng ta có khả năng khôi phục và phát huy những nghề cổ truyền của dân tộc. Điều quan trọng là biết tổ chức tiến hành, khai thác đúng hướng và trả công thích đáng cho người thợ.
 
Chú thích;
(1)Hải Dương phong vật khúc khải thích…
(2) Mục lục có đoạn viết:
Bản nông phu ngày tháng nội chu
Kho phong nguyệt của đầy muôn ức
Công khéo léo khoát rồng, trổ phượng
Máy nhiễm chuẩn thẳng, hương thừa lư gánh ngọc
(3) Theo tài liệu khai thác địa phương, nhóm thợ này thành lập một nhóm xóm nhỏ ở phố Huế gọi là Xóm Đông Tiến- Lấy tên một thôn của Đông Giao xưa.
(4) Xà cừ là một loại ốc, sống nhiều ở cùng biển miền Trung.

Theo sách Nghề cổ truyền Hải Hưng

 

Các bài mới nhất

-  Phát triển làng nghề để xây dựng nông thôn mới
-  Ngọt bùi cốm An Châu
-  Làng nghề bánh đa Hội Yên, xã Chi Lăng Nam, Huyện Thanh Miện gặp khó khăn trong việc mở rộng thị trường
-  Nghề đan mây tre ở Đan Giáp
-  Nghề Mộc thôn Phương Độ, Hưng Thịnh, Bình Giang với phát triển kinh tế nông thôn.
-  Cẩm Giàng thêm một làng nghề được công nhận
-  Nam Sách: Làng nghề sản xuất hương cho thu nhập khá
-  Nghề mộc ở Cổ Dũng, Kim Thành
-  Thanh Miện: nghề nuôi thủy sản phát triển
-  Gốm sứ Cậy
 
 
BÀI VIẾT TIÊU BIỂU

Cách trị bệnh đậu gà

Hiện nay, thời tiết khô hanh, trên đàn gà xuất hiện các mụn bằng hạt đỗ mọc ở mào, xung quanh mắt… Đây là triệu chứng điển hình của bệnh đậu gà.

Chi tiết >>


Nguyên tắc điều trị bệnh đường tiêu hóa ở lợn

Bệnh về đường tiêu hoá khá phổ biến trong chăn nuôi lợn, nhất là đối với lợn con. Nếu người nuôi không biết điều trị đúng phương pháp thì tỷ lệ lợn chết cao, gây thiệt hại lớn.

Chi tiết >>


Trừ cỏ ở má luống hành

 Bà con nông dân ở một số địa phương thường hay dùng thuốc Sunrice 15WG để phun phòng trừ cỏ cho má luống hành.

Chi tiết >>


Trừ bệnh sương mai hại cà chua sớm

 Hiện nay, bệnh sương mai đang phá hại mạnh diện tích cà chua sớm

Chi tiết >>


Kỹ thuật chăn nuôi vịt theo hướng nuôi nhốt hoàn toàn

(VietQ.vn) - Chăn nuôi vịt theo mô hình nuôi nhốt hoàn toàn rất tiện lợi lại có kỹ thuật chăn nuôi đơn giản. Tuy nhiên cần tuân thủ đúng các yêu cầu về thức ăn, nước uống, cách chăm sóc để đạt năng suất, chất lượng vịt cao nhất.

Chi tiết >>


Công ty TNHH Một thành viên giống cây trồng Hải Dương đã nghiên cứu ra hai giống lúa NB01 và lúa nếp DT22. Hai giống lúa này ngắn ngày, kháng bệnh tốt và mang lại năng suất cao.

Chi tiết >>


3NTV-VTC16: Làm giàu từ nuôi thỏ ngoại

Chi tiết >>


Khá lên nhờ nuôi dê Boer

 Sau thời gian tìm hiểu, đầu năm 2013, ông Nguyễn Văn Nam ngụ ấp Bưng Cần, xã Bảo Hòa, huyện Xuân Lộc, Đồng Nai đã mạnh dạn đầu tư nuôi 25 con dê giống Boer (Hà Lan). Đến nay, mô hình này đạt hiệu quả kinh tế cao, ông Nam trở thành người thành công đầu tiên khi nuôi giống dê này ở địa phương.

Chi tiết >>


Hạn chế héo xanh cà chua

 Thâm canh cà chua đã phát triển rộng rãi ở nhiều vùng đất trồng màu vùng ĐBSH, song việc khống chế bệnh chết héo xanh đối với nông dân đang là bài toán nan giải. Nhiều nông dân trao đổi, bệnh này diễn ra đột ngột và xóa sổ rất nhanh diện tích cà chua khiến cho họ trở tay không kịp. Cây chết nhiều trong giai đoạn sinh thực (cây đang ra hoa và phát triển quả) khiến cho thiệt hại về năng suất là rất lớn

Chi tiết >>


Kinh nghiệm trồng dưa, bí bò đất

 Với các cây họ bầu bí, vụ đông sớm có quỹ đất rộng, trồng dưa, bí dễ bán lại không phải làm giàn, bảo vệ thực vật dễ dàng hơn, thời gian sinh trưởng của các giống ngắn… nên được nhiều nông dân lựa chọn.


Chi tiết >>


SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HẢI DƯƠNG