Các giống bí xanh thường trồng là: Bí trạch, bí đá, bí bầu, bí lông ..., nhưng trồng phổ biến nhất hiện nay là giống bí trạch và bí đá, nhóm giống này đã được trồng nhiều năm ở Tráng Liệt - Bình Giang - Hải Dương.
1- Giống:
Các giống bí xanh thường trồng là: Bí trạch, bí đá, bí bầu, bí lông ..., nhưng trồng phổ biến nhất hiện nay là giống bí trạch và bí đá, nhóm giống này đã được trồng nhiều năm ở Tráng Liệt - Bình Giang - Hải Dương.
- Bí trạch: Quả thon nhỏ nặng trung bình 4 - 5 kg, quả to 6 - 7 kg cùi dày ruột đặc ít nước, ăn đậm, ngọt, bảo quản được lâu .
- Bí đá: Giống bí trạch nhưng quả nhỏ hơn nặng 2 - 3 kg phẩm chất tốt, thời gian sinh trưởng ngắn hơn thường được trồng ở vụ đông trên đất 2 vụ lúa.
2- Thời vụ:
+ Vụ chính: Gieo tháng 12 - đầu tháng 3 tốt nhất từ 25 / 1 - 25 / 2, thu hoạch từ tháng 4 - đầu tháng 7.
+ Trái vụ : - Vụ hè thu: Gieo 25 / 6 - 25 / 7, thu tháng 10 - tháng 11.
- Vụ đông: Gieo 25 / 8 - 25 / 9, thu tháng 12 - tháng 1.
3- Làm đất, bón phân, trồng:
+ Bí xanh không kén đất, có thể trồng trên đất thịt trung bình, hơi nặng, nhưng tốt nhất là chân đất thịt nhẹ hoặc đất phù sa tơi xốp thoát nước. Làm đất nên cày bừa kỹ bón vôi 20 - 40 kg/sào tuỳ theo độ chua của đất.
+ Đối với bí làm giàn (vụ xuân, hè thu): - Lên luống đơn rộng 70 - 80 cm cao 25 - 35 cm rãnh luống rộng 30 cm trồng 1 hàng giữa luống khoảng cách 25 - 30 cm (1 cây) hoặc 50 - 60 cm (1 hốc 2 cây).
- Luống đôi mặt luống rộng 1,2 - 1,4 m, cao 25 - 35 cm, rãnh luống rộng 30 cm, trồng 2 hàng cách nhau 70 - 80 cm, cây cách cây 25 - 30 cm hoặc hốc cách hốc 50 - 60 cm (1 hốc 2 cây) đảm bảo mật độ 1.000 cây/sào.
+ Đối với bí không làm giàn: (chủ yếu ở vụ đông) luống rộng 2,5 - 3 m cao 25 - 35 cm rãnh rộng 30 cm trồng 1 hàng giữa luống, hốc cách nhau 1 m mỗi hốc 4 cây đảm bảo 500 cây/sào.
+ Bón phân:
- Lượng phân bón cho 1 sào : P/C hoai : 600 - 700 kg
Urê : 7 - 10kg
Lân Super : 8 - 10 kg
Kali : 4 - 5 kg .
Nếu ít phân chuồng phải tăng lượng đạm, lân và kali. Bón lót toàn bộ P/C + lân + 1/2 - 1/3 kali bón theo hốc, số đạm và kali còn lại dùng bón thúc.
+ Gieo trồng: Có thể gieo hạt trực tiếp, qua vườn ươm hoặc làm bầu. Đối với bí vụ đông để tranh thủ thời vụ nên làm bầu, hạt bí trước khi gieo nên xử lý bằng thuốc Starner để hạn chế bệnh chết dây (héo xanh). Cây con 2 - 3 lá đem ra trồng phải sạch sâu bệnh.
4- Chăm sóc:
Từ khi cây mọc hoặc trồng đến lúc cây bò cần xới phá váng 2 - 3 lần kết hợp vun gốc, đảm bảo tưới nước đủ ẩm cho cây. Tránh để bị úng ngập hoặc đất quá ẩm dễ bị rụng hoa, quả và bị bệnh.
+ Bón thúc số phân đạm và kali còn lại làm 3 lần
- Lần 1: Khi cây có 4 - 6 lá thật
- Lần 2: Khi cây có nụ có hoa
- Lần 3: Khi cây có quả rộ .
Có thể dùng nước phân ngâm mục, Urê + Kali pha loãng tưới cho cây sau khi thu quả để tận thu lứa bí ngọn (đối với bí xuân + hè thu).
+ Một số biện pháp kỹ thuật cần chú ý:
Khi cây bí dài 50 cm thì lấy đất chèn lấp ngay đốt để cây ra nhiều rễ bất định. Hướng ngọn bí bò từ hốc này sang hốc khác sau đó mới cho dây leo lên giàn. Dùng lạt mềm buộc nách lá. Giàn cắm chéo như mái nhà (1 sào cần 1.100 - 1.300 cây dóc) hoặc dùng tre làm khum.
Mỗi cây chỉ để 2 nhánh chính, trong giai đoạn ra hoa rộ cần bấm bớt ngọn và hoa đực. Điều chỉnh cuống quả bí nằm vào chỗ 2 cây dóc giao nhau. Nếu bí không làm giàn quả bò trên mặt đất phải lót rơm rạ.
+ Phòng trừ sâu bệnh:
Bí thường bị sâu xám, rệp, sâu xanh, sâu khoang, sâu vẽ bùa, bọ trĩ phá hoại. Cần dùng thuốc: Sherpa, Sumicidin, Regent, Difiterex Selecron, Politrin..., phun trừ theo sự chỉ dẫn của từng loại thuốc.
Các bệnh lở cổ rễ, phấn trắng ..., dùng thuốc Topsin, Carbenzin, Aliette, Sameton, Kasuzan..., phun trừ.
5- Thu hoạch:
Tuỳ theo mục đích sử dụng có thể thu hoạch sau khi đậu quả từ 30 - 60 ngày.
Để giống: Chọn quả đặc trưng, đều, to ở cây không bị bệnh để già rồi mới thu hoạch. Trước khi gieo 20 - 30 ngày bổ lấy hạt rửa sạch hong khô ./.
Thức ăn đóng vai trò quyết định năng suất cá trong mỗi vụ nuôi. Giá thức ăn cho cá đang ngày càng leo thang, nếu không tính toán kỹ thì sản xuất khó duy trì và phát triển được. Để giảm chi phí đầu vào cho sản xuất, có thể tận dụng nguồn thức ăn có sẵn từ thiên nhiên, nguồn nguyên liệu tươi sống và phụ phẩm nông nghiệp sẵn có.
Việc sử dụng chế phẩm sinh học (CPSH) trong chăn nuôi gia súc, gia cầm đang triển khai thử nghiệm ở một số địa phương nhưng chưa được sử dụng rộng rãi. Khuyến cáo của các nhà khoa học cho thấy, việc sử dụng CPSH trong chăn nuôi heo sẽ giúp tăng tỷ lệ nạc hóa đàn heo vượt ngưỡng 50%; đồng thời giải quyết tốt môi trường chăn nuôi vốn được xem là khâu khó khăn phức tạp, nhất là tại các vùng ven các khu đô thị để tạo ra những sản phẩm an toàn chất lượng.
Là giống ngô nếp lai đơn ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng bắp ăn tươi rất ngon, ăn nguội vẫn dẻo, có vị đậm, thơm đặc trưng. Sinh trưởng khỏe, chống chịu tốt với sâu bệnh, bắp to thon dài, năng suất bắp tươi đạt 18-20 tấn/ha, độ đồng đều bắp rất cao, tỷ lệ bắp loại 1 cao > 95%, không hở đuôi chuột.
Dịch cúm gia cầm luôn là lo lắng của người chăn nuôi, từng khiến bao nhiêu người trắng tay... Làm thế nào để phòng, chống dịch cúm gia cầm có hiệu quả, hạn chế thấp nhất thiệt hại do dịch cúm gia cầm gây ra?
Trong các loại cá nước ngọt, cá trắm đen được xếp là một trong những loại cá quý nhất. Không những thịt nó có hàm lượng dinh dưỡng cao mà lại còn thơm ngon, ngọt thịt.
Rau gia vị ( rau mùi) là thứ rau ăn thêm cùng với các loại rau và thức ăn để hấp dẫn khẫu vị người ăn, Mời bạn đọc tham khảo cách trồng một vài loại rau gia vị đơn giản tại nhà để khi thèm ăn món cháo gỏi vịt chúng ta có ngay rau húng quế tại nhà
Chăn nuôi thỏ có nhiều lợi thế do chi phí đầu tư thấp, tận dụng được các phế phụ phẩm nông nghiệp, lao động nhàn rỗi, lao động phụ. Thỏ thuộc loại đẻ khỏe, phát triển nhanh. Một thỏ mẹ nặng 4 - 5kg trong một năm có thể sản xuất ra 90 - 140 kg thịt, hiệu suất cao hơn nhiều so với các loài gia súc khác.
Bệnh do nấm Aspergillus gây ra, có nhiều loài, trong đó Aspergillus fumigatus là phổ biến. Bào tử nấm phát triển trên thức ăn (bắp, đậu nành, lúa,…), rơm rạ, chất độn chuồng. Bệnh thường xảy ra do chuồng trại kém thông thoáng, ẩm độ cao là điều kiện thích hợp để bệnh phát sinh. Bệnh xảy ra do vịt nuốt phải bào tử nấm, vào cơ thể gây ra những nốt hay những mảng trong phổi và các túi khí.
Năm 2013, được dự báo là năm thời tiết có nhiều diễn biến bất thường do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Đầu năm, chịu nhiều đợt rét đậm, rét hại kéo dài (do rét muộn). Bên cạnh đó, giá cả đầu vào phục vụ nuôi tôm tăng cao là thách thức không nhỏ đối với người nuôi. Để vụ nuôi tôm xuân hè 2013 đạt hiệu quả cao, bà con cần làm tốt một số khâu kỹ thuật như sau: