TẠP CHÍ KH&CN
Xem Tạp chí   
Thành viên



Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: : 9530127
Đang trực tuyến: 73 khách 
Hải Dương: Nông dân trồng nấm làm giàu
Xem kết quả: / 10
Bình thườngTuyệt vời 
Tạp chí số 3/2012 - Khoa học quản lý
Đăng bởi: CN. Phạm Ninh Hải   
Thứ hai, 09 Tháng 7 2012 13:48
10
Ông Nguyễn Duy Sách - Chủ trang trại nấm ở xã Quang Phục (Huyện Tứ Kỳ). Ảnh Nguyễn Ánh
Những năm gần đây, thị trường tiêu dùng chuyển hướng sang những sản phẩm sạch, an toàn, có giá trị dinh dưỡng cao đã tạo điều kiện cho nghề trồng nấm phát triển mạnh, trở thành một nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao so với nhiều loại cây trồng khác. Với ưu thế tận dụng nguồn nguyên liệu nông nghiệp sẵn có tại địa phương, tạo ra sản phẩm sạch, khai thác lao động nông nhàn, nhiều hộ nông dân Hải Dương đã đầu tư trồng nấm đạt hiệu quả cao.
Anh Vũ Hồng Phong, thôn Hòa Bình, xã Cẩm Đoài, huyện Cẩm Giàng là một trong những nông dân Hải Dương thành công với nghề trồng nấm. Hiện tại, cơ sở sản xuất nấm của gia đình anh có diện tích gần 2.000 m2, mỗi năm thu lãi 200 triệu đồng.
Theo ông Nghiêm Xuân Yên, chủ tịch UBND xã Cẩm Đoài, nghề trồng nấm tại Cẩm Đoài đã phát triển từ năm 1998 với hàng trăm hộ dân tham gia sản xuất. Tuy nhiên, các hộ sản xuất manh mún, nhỏ lẻ và mang tính chất tận dụng nguyên liệu, tận dụng diện tích chuồng trại chăn nuôi để trồng nấm. Người dân chỉ trồng hai loại nấm chủ yếu là nấm mỡ và nấm sò, mỗi năm chỉ trồng một vụ, nhưng tiêu thụ khó khăn do thị trường chưa quen dùng. Từ năm 2004, anh Phong khởi đầu nghề trồng nấm với khoảng 20 m2 , mỗi năm anh sử dụng khoảng 4-5 tấn rơm, rạ nguyên liệu nên thu lãi chỉ gần chục triệu đồng. Nhận thấy hiệu quả của cây nấm, năm 2007, anh đăng ký tham gia lớp tập huấn trồng nấm do Viện Di truyền nông nghiệp đào tạo và quyết định đầu tư vốn vay bạn bè, người thân để xây dựng, mua sắm trang thiết bị mở rộng cơ sở sản xuất, chế biến nấm với tổng diện tích 1.700m2.
Theo anh Phong, trồng nấm không đòi hỏi cao về kỹ thuật và vốn đầu tư. " Có nhiều cuốn sách dạy về kỹ thuật trồng nấm. Nguyên liệu sử dụng để sản xuất cũng là những nguyên liệu tận dụng từ nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp". Nguồn giống được anh mua tại Viện Di truyền nông nghiệp để đảm bảo nguồn gốc và chất lượng giống. Nguyên liệu trồng nấm sử dụng rơm, rạ là chính. Cùng với đó là bông phế thải, lõi ngô, vỏ hạt cà phê, mùn cưa. Bí quyết của anh Phong nằm ở cách pha trộn nguyên liệu. Sử dụng rơm, rạ trộn với mùn cưa giúp kéo dài thời gian thu hoạch nấm thêm 1-2 lứa/vụ trồng. Khi trồng nấm linh chi, anh pha trộn một số phụ phẩm khác là đậu tương (1%), cám gạo (2%), cám ngô (2%). Với nấm sò, tỷ lệ pha trộn chỉ cần 2% cám gạo. Quá trình trồng nấm, anh đầu tư các loại máy móc hiện đại, bao gồm: máy đóng bịch góp phần giảm lao động chân tay, nâng công suất đóng bịch lên gần 3 lần so với làm thủ công; lò hấp thanh trùng nguyên liệu để xử lý sạch nguồn nguyên liệu đưa vào sản xuất.
Trung bình mỗi năm anh Phong sử dụng khoảng 40-50 tấn rơm, rạ, sản xuất ra 10-12 tấn nấm các loại, bao gồm nấm sò, nấm mỡ, mộc nhĩ, linh chi. Các loại nấm được trồng luân canh, xen canh nhau tùy theo mùa vụ và tùy theo đặc điểm sinh trưởng của mỗi loại nấm. Nấm sò có thể trồng quanh năm, nấm linh chi và nấm mỡ trồng từ tháng 8-12, nấm rơm thường trồng vào mùa hè (tháng 5-7). Công thức luân canh anh Phong thường áp dụng là: trồng nấm mỡ, chuyển sang nấm rơm, nấm sò, kết thúc bằng việc phơi xưởng, xử lý nhà xưởng để chuẩn bị cho vụ nấm năm sau. Thông thường, tháng giêng hàng năm là thời điểm anh ngừng trồng mới, mà tiến hành thu hoạch nấm đã trồng từ cuối năm trước, tháng 5 tháng 6 là thời điểm nhiệt độ cao làm giảm năng suất nấm nên anh cũng không trồng mới.
Về chi phí sản xuất, anh Phong cho biết, trồng nấm không đòi hỏi vốn đầu tư lớn vì phần lớn sử dụng nguyên liệu tận dụng như mùn cưa, rơm, rạ. Hiện nay trên thị trường, giá bán nấm mỡ là 60.000 đ/kg, nấm sò là 40.000 đ/kg và nấm linh chi là 800.000đ/kg. Sản phẩm được anh đưa đi tiêu thụ ở thị trường trong tỉnh và Hà Nội. Ngoài ra, anh chọn cách liên kết, trao đổi hàng hóa với các cơ sở sản xuất nấm tại các tỉnh khác như Ninh Bình, Nam Định. Nhờ đó, anh luôn chủ động được đầu ra cho sản phẩm. Trừ chi phí nguyên liệu, mỗi năm anh thu lãi 200 triệu đồng. Cơ sở sản xuất của gia đình anh tạo việc làm thường xuyên cho 4 lao động với mức thu nhập 2,5 -3 triệu đồng/tháng và lao động thường xuyên của gia đình.
Gắn bó với nghề trồng nấm đến nay đã gần chục năm, anh Phong cũng đã từng gặp thất bại. Đợt dịch bệnh mốc xanh trên nấm hồi đầu năm ngoái đã khiến anh phải vứt bỏ trên 1 vạn bịch nấm, thiệt hại 70 triệu đồng. Anh chia sẻ: mình xác định làm nghề trồng nấm vừa làm vừa rút kinh nghiệm, chứ không dám nói đã học hết kỹ thuật từ sách vở, từ các thầy. Vì thế, qua đợt dịch bệnh trước, tôi rút ra cho mình kinh nghiệm là đặc biệt chú trọng đến xử lý nguyên liệu, xử lý môi trường khu nhà xưởng, đảm bảo môi trường an toàn, sạch bệnh cho khu nuôi trồng.
Nói về nghề trồng nấm, anh Phong cho rằng, trồng nấm là một nghề nhiều triển vọng. Trồng nấm không đòi hỏi vốn lớn, kỹ thuật sản xuất cũng do các thầy Viện Di truyền nông nghiệp hướng dẫn tận tình. Hiện giá thành nấm phù hợp với nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng nên trồng nấm là một ngành sản xuất có tiềm năng ở Hải Dương. Phát huy hiệu quả sản xuất nấm, anh đầu tư mở rộng quy mô sản xuất thêm 2.000 m2 để xây dựng lán trại làm nấm kết hợp cấy lúa, đồng thời thành lập Hợp tác xã Nấm Thịnh Phong để tiếp cận nguồn vốn của Liên minh Hợp tác xã, phục vụ cho mở rộng sản xuất.
Tại xã Quang Phục, huyện Tứ Kỳ, trang trại nấm của anh Nguyễn Trung Sách là một cơ sở lớn với diện tích 4.000 m2. Anh Sách chia sẻ: anh bắt tay vào nghề trồng nấm từ năm 2000, sau do thị trường tiêu thụ chưa mạnh nên làm nấm được 3 năm thì anh phải tạm dừng. Năm 2007, anh Sách quay trở lại với nghề trồng nấm. Hiện tại, cơ sở sản xuất nấm của anh hoạt động với tên gọi là Hợp tác xã Hải Dương, hoạt động chủ yếu là sản xuất, thu mua và tiêu thụ các loại nấm như: nấm sò, nấm mỡ, nấm linh chi, nấm rơm, nấm kim châm, nấm hải sản, nấm hương, mộc nhĩ... Sản lượng nấm của Hợp tác xã lên đến hàng trăm tấn mỗi năm. Trong đó, chủ yếu là nấm sò do Hợp tác xã sản xuất tại chỗ, các loại nấm khác được anh thu gom từ hàng trăm hộ nông dân từ các tỉnh như Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình. Hợp tác xã là đơn vị cung cấp các bịch nguyên liệu đã qua xử lý và cấy giống, đồng thời là đơn vị thu mua và bao tiêu sản phẩm do bà con sản xuất. Những loại nấm được tiêu thụ nhiều nhất là nấm sò, nấm mỡ, nấm kim châm.
Tại Hợp tác xã Hải Dương, sản lượng nấm do nông dân sản xuất đều được Hợp tác xã tổ chức tiêu thụ tốt. Ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, Hợp tác xã đã đầu tư xây dựng lò hơi đốt để thanh trùng nguyên liệu. Các loại nguyên liệu như rơm, rạ, bông, mùn cưa sau khi đóng bịc được đưa vào lò hơi để xử lý. Trước đây, cơ sở của anh sử dụng 2 lò đốt trực tiếp, tiêu thụ 4 tạ than/ngày, xử lý được 400 bịch nấm sò. Từ năm 2010, được sự hộ trợ về kỹ thuật và kinh phí Đề án sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả của Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương, anh đưa vào sử dụng lò hơi đốt, tiêu thụ 6 tạ than/ngày nhưng tăng công suất lên 4.000 bịch nguyên liệu, tăng gấp 10 lần so với lò đốt trực tiếp. Nhờ áp dụng lò hơi vào sản xuất nguyên liệu nên cơ sở của anh đã hạ giá thành nguyên liệu, tạo độ đồng đều về chất lượng nguyên liệu, giảm rủi ro cho nông dân.
Theo anh Sách, nghề trồng nấm không có nhiều rủi ro như ngành chăn nuôi. Muốn làm thành công, nông dân cần chú trọng khâu đầu tiên là xử lý nguyên liệu làm bịch giống. Bên cạnh đó, bà con cần lựa chọn thời vụ phù hợp với từng loại nấm để gieo trồng, nếu làm nấm trái vụ sẽ cho hiệu quả kinh tế cao nhưng cũng đòi hỏi kỳ thuật cao hơn. Hợp tác xã Hải Dương do anh Nguyễn Trung Sách làm chủ nhiệm hiện đang là cơ sở sản xuất nấm tự cung tự cấp, cung cấp giống và bao tiêu sản phẩm cho nội bộ xã viên có hiệu quả cao. Cơ sở tạo việc làm cho 8 lao động tại chỗ thường xuyên với thu nhập 2,5-3 triệu đồng/người/tháng và hàng trăm hộ nông dân tận dụng nguyên liệu tự sản xuất tại gia đình. Hiện tại, Hợp tác xã đang hoàn thiện để hình thành một cơ sở sản xuất giống cung cấp cho đông đảo người trồng nấm tại địa phương.
Cho đến nay, Hải Dương có nhiều hộ dân trồng nấm do nghề trồng nấm phù hợp với phát triển kinh tế nông thôn, có hiệu quả cao về kinh tế, xã hội, môi trường. Hơn nữa, đây là công việc vừa đem lại thu nhập cao, vừa góp phần tạo việc làm cho một bộ phận nhỏ lao động nông thôn. Sản xuất nấm không chỉ tạo ra sản phẩm sạch cho thị trường nông sản, mà còn góp phần xử lý một lượng lớn rơm, rạ sau thu hoạch, góp phần bảo vệ môi trường nông thôn. Tuy nhiên, có một thực tế đang diễn ra trong hoạt động sản xuất nấm ở Hải Dương là số hộ có thâm niên 5 năm trong nghề này rất ít, hay nói đúng hoạt động sản xuất nấm không thật bền vững. Vấn đề do chính sách ưu đãi; công tác tuyên truyền; tổ chức thị trường; vốn đầu tư hay chuyển giao công nghệ còn có sự bất cập? – là những điều rất đáng để các nhà quản lý phải lưu tâm.
Nguyễn Thị Ánh
Bài đăng trên Tạp chí KHCN&MT số 3/2012