TẠP CHÍ KH&CN
Xem Tạp chí   
Thành viên



Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: : 8649827
Đang trực tuyến: 175 khách 
XỬ LÝ RƠM RẠ LÀM PHÂN HỮU CƠ VI SINH ĐỂ BÓN CHO CÂY TRỒNG
Xem kết quả: / 0
Bình thườngTuyệt vời 
Kiến thức Nông nghiệp - Kỹ thuật mới
Đăng bởi: KS. Trần Thị Thuận   
Thứ năm, 08 Tháng 12 2011 13:02
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì thành phần chính của rơm, rạ là những hydratcacbon gồm: licnoxenlulozơ, 37,4%; hemixenlulozơ (44,9%); licnin 4,9% và hàm lượng tro (oxit silic) cao từ 9, đến 14%.
- Xử lý rơm, rạ bằng lý hóa: rơm, rạ băm, chặt, nghiền nhỏ để phá vỡ cấu trúc vách tế bào, thu nhỏ kích thước; dùng tác nhân oxi hoá mạnh (axit peroxyaxetic, clorit natri được axit hoá, ôzôn, v.v.), axit mạnh hay kiềm (vôi, kali, xút, amôniac, v.v.) phá vỡ các mối liên kết giữa lignin và hemixenluloza trong rơm, rạ để làm cho hemixenluloza, xenluloza vốn bị bao bọc bởi phức hợp lignin-hemixenluloza bị phá vỡ.
- Xử lý rơm, rạ bằng vi sinh: là phương pháp dùng một số loài nấm, chế phẩm enzym của nấm, một số vi khuẩn, xạ khuẩn có ích cấy vào rơm, rạ để phân giải lignin hay các mối liên kết hoá học giữa lignin và hydratcacbon trong vách tế bào rơm, rạ.
Hướng dẫn quy trình kỹ thuật xử lý rơm, rạ bằng chế phẩm sinh học Fito-Biomix-RR thành phân bón hữu cơ phục vụ sản xuất nông nghiệp
Nguồn gốc của chế phẩm
Chế phẩm BIOMIX-RR là một hỗn hợp vi sinh vật xử lý rơm, rạ do Công ty cổ phần Công nghệ sinh học Hà Nội sản xuất. Quy trình kỹ thuật xử lý rơm, rạ làm phân bón hữu cơ vi sinh bằng chế phẩm BIOMIX-RR đã được cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích số HI-2010 của Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ. Sản phẩm phân bón theo công nghệ này đã được cho phép sản xuất trong "Danh mục phân bón được cho phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng tại Việt Nam" tại Công văn số 1582/CV-NN-DPB ngày 30/11/2004 của Cục Nông nghiệp - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Thành phần chế phẩm
- Các chủng vi sinh vật phân giải hữu cơ, vi sinh vật tổng hợp kháng sinh có mật độ ≥ 107 CFU/g.
- Enzym, các chất điều hòa sinh trưởng được sản sinh trong quá trình hoạt động của các chủng vi sinh vật.
- Các nguyên tố khoáng, vi lượng.
Công dụng
Bổ sung các chủng giống vi sinh vật phân giải hữu cơ có khả năng phân giải nhanh và triệt để rơm, rạ sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ vi sinh giàu dinh dưỡng phục vụ sản xuất nông nghiệp. Phân bón hữu cơ vi sinh là sản phẩm an toàn với người và động vật.
 Các bước thực hiện
 Chuẩn bị xử lý:
- Xác định lượng rơm, rạ cần xử lý trước khi thu hoạch.
- Lựa chọn địa điểm: nên chọn địa điểm ủ xử lý gần nguồn nguyên liệu (rơm, rạ), thuận tiện nguồn nước và hợp lý khi bảo quản và sử dụng, việc xử lý theo quy mô hộ gia đình nhưng nên bố trí theo hướng tập trung theo khu xử lý để tiện quản lý kỹ thuật.
- Chuẩn bị đủ lượng chế phẩm sinh học, phân hoá học bổ sung và một số vật tư cần thiết.
Thực hiện: các bước thực hiện tuân thủ theo quy trình kỹ thuật được hoàn thiện sau 02 năm triển khai tại Hải Dương:
- Thu gom rơm, rạ: khi thu gom rơm rạ ủ đống có thể tận dụng thêm một số sản phẩm hữu cơ như: bèo tây, thân lá cây trồng bổ sung thêm, đống ủ sẽ mau nhanh phân huỷ.
- Tùy lượng nguyên liệu mà bố trí diện tích chân đống, lượng chế phẩm hòa tan, phân hoá học NPK cho hợp lý, 1 tấn rơm, rạ cần lượng chế phẩm và phân hoá học như sau:
+ Chế phẩm: 0,2kg/tấn
+ Phân hoá học NPK: 3kg/tấn
- Quy trình thực hiện:
+ Chế phẩm: tiến hành pha chế phẩm ở dạng dung dịch hoà tan, cứ 0,2kg chế phẩm pha với 50 lít nước. Nồng độ của dung dịch có thể thay đổi tùy thuộc vào độ ẩm của rơm, rạ sao cho khi ủ rơm, rạ có độ ẩm đạt trên 80%.
+ Trải rơm, rạ sau khi thu hoạch trên địa điểm lựa chọn, mỗi lớp rơm, rạ dày 30cm thì tưới một lượt dung dịch chế phẩm hòa tan và rắc mỏng phân hoá học NPK. Nếu gia đình có phân chuồng thì bổ sung thêm vào đống ủ.
+ Sau khi đã tiến hành xong, đống ủ phải được che đậy bằng nilon để đảm bảo vệ sinh môi trường, giữ nhiệt và ẩm độ. Màng nilon che đậy đống ủ được sử dụng nhiều lần đến khi hỏng thì thu gom bán cho người thu mua phế liệu để tránh gây ô nhiễm môi trường.
- Đảo trộn đống ủ:  để cho rơm, rạ vụn thêm và làm cho các loại vi sinh vật phân bố đều, tưới bổ sung duy trì ẩm độ (cách kiểm tra độ ẩm: cầm nắm rơm, rạ vắt đều thấy nước rỉ ra theo kẽ tay là được), trộn đều giữa chỗ phân huỷ tốt và chưa tốt, để đảm bảo cần đảo trộn 2 lần; lần 1 sau ủ 10-12 ngày, lần 2 cách lần 1 là 10 ngày.
- Sau 30 ngày trở đi tiến hành kiểm tra chất lượng phân, nếu đảm bảo yêu cầu phân ủ có thể sử dụng để bón lót gối vụ hoặc đánh gọn bảo quản bón cây vụ đông.
Tóm tắt Kế hoạch khung xử lý rơm, rạ dư thừa sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ giai đoạn 2011-2015
Ngày 31 tháng 05 năm 2111 Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dương đã ra Quyết định số 1597/QĐ-UBND phê duyệt Kế hoạch khung tổ chức xử lý rơm, rạ dư thừa trên địa bàn tỉnh.
Mục tiêu chung của Kế hoạch là tổ chức xử lý rơm, rạ bằng chế phẩm sinh học thành phân bón hữu cơ phục vụ sản xuất nông nghiệp, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tăng độ phì nhiêu của đất nông nghiệp, đảm bảo sản xuất nông nghiệp bền vững ở các địa phương trong toàn tỉnh.
Mục tiêu cụ thể của Kế hoạch:
- Tuyên truyền nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về tác hại của việc đốt hoặc xả bừa bãi rơm, rạ dư thừa sau thu hoạch ra đường giao thông, các công trình thuỷ lợi, v.v..
- Hướng dẫn cán bộ và nhân dân sử dụng chế phẩm sinh học xử lý rơm, rạ thành phân bón hữu cơ vi sinh phục vụ sản xuất nông nghiệp.
- Huy động các tổ chức đoàn thể, chính trị, xã hội ở các địa phương phối hợp với tổ chức khoa học vận động nông dân ở các địa phương trong tỉnh tổ chức xử lý rơm, rạ dư thừa sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ phục vụ sản xuất nông nghiệp để đến năm 2015 trên địa bàn tỉnh cơ bản không còn hiện tượng đốt hoặc xả bừa bãi rơm, rạ trên đường giao thông, công trình thuỷ lợi, v.v..
Thực hiện được mục tiêu đề ra Kế hoạch chia thành hai giai đoạn:
Giai đoạn I (năm 2011): Tổ chức nhân rộng ở các địa phương đã thực hiện mô hình thử nghiệm (huyện Bình Giang và huyện Thanh Hà), thực hiện ở các xã, phường thuộc thành phố Hải Dương, các xã lân cận thành phố Hải Dương. Các huyện, thị xã còn lại thực hiện mô hình trình diễn ở các xã điểm xây dựng nông thôn mới. Địa điểm và quy mô thực hiện cụ thể:
- Thành phố Hải Dương diện tích trồng lúa cả năm 2.800 ha ở 8 địa phương: Phường Việt Hoà, Ngọc Châu và các xã: Thượng đạt, An Châu, Nam Đồng, Ái Quốc, Tân Hưng, Thạch Khôi.
- 11 xã lân cận thành phố Hải Dương diện tích trồng lúa cả năm 6.388 ha, bao gồm các địa phương: thị trấn Lai Cách, các xã: Cẩm Đoài, Cao An, Đức Chính thuộc huyện Cẩm Giàng; Gia Xuyên và Liên Hồng thuộc huyện Gia Lộc; Ngọc Sơn thuộc huyện Tứ Kỳ; Tiền Tiến, Quyết Thắng thuộc huyện Thanh Hà; Minh Tân, Đồng Lạc thuộc huyện Nam Sách.
- Nhân rộng và xử lý ở tất cả các xã thuộc hai huyện Bình Giang và Thanh Hà.
+ Huyện Bình Giang: 18/18 xã, thị trấn với tổng diện tích lúa cả năm: 12.604 ha.
+ Huyện Thanh Hà: 23 xã, thị trấn còn lại (trừ 2 xã Tiền Tiến và Quyết Thắng) diện tích lúa cả năm: 6.992 ha.
- Triển khai xử lý 50 % số diện tích ở các xã xây dựng điểm nông thôn mới: 8 huyện, thị xã Chí Linh với 42 xã với diện tích lúa cả năm 12.123 ha.
Giai đoạn II (năm 2012-2015):
- Tiếp tục duy trì xử lý quy mô và diện tích đã thực hiện trong năm 2011.
- Tăng dần diện tích được xử lý từ năm 2012 trên diện tích của 11 huyện, thị xã. Cụ thể: Năm 2012 là 40 %, năm 2013 là 60 %, năm 2014 là 80 % và năm 2015 là 100 % về diện tích cấy lúa với 50 % lượng rơm, rạ sau thu hoạch.
Kết quả xử lý rơm, rạ dư thừa sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ ở một số địa phương thuộc tỉnh Hải Dương.
Trung tâm Ứng dụng TBKH được UBND tỉnh giao nhiệm vụ là cơ quan thực hiện kế hoạch, đã phối hợp với Cơ quan hỗ trợ kỹ thuật là Cty CP công nghệ sinh học, Ban chỉ đạo các huyện, Phòng thường trực Kế hoạch ở huyện là Phòng NNPTNT, Phòng Kinh tế hạ tầng, Phòng Kinh tế thị xã Chí Linh đã tổ chức 60 lớp cho trên 6.000 lượt người dân tham dự ở 60 xã thuộc 12 huyện, thị xã, thành phố. Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng bằng nhiều hình thức, ... Thông qua đó các hộ nông dân đã hiểu được tác hại của việc đốt, xả rơm, rạ bừa bãi, nắm vững được quy trình kỹ thuật, cách tổ chức thực hiện.
Kết quả vụ xuân: 63 xã thuộc 12 huyện, TX, TP đã thực hiện, tổng lượng rơm, rạ đã xử lý là 9.192,0 tấn. Huyện xử lý được nhiều nhất là huyện Thanh Hà, xử lý được 2.507 tấn rơm, rạ; huyện xử lý ít nhất là huyện Cẩm Giàng được 74,0 tấn. Xã xử lý nhiều nhất là xã Quyết Thắng (Thanh Hà) được 750,0 tấn, ngược lại có những xã chỉ mới thực hiện thử nghiệm được 1,0 tấn (xã Cẩm Đoài - Cẩm Giàng).
Một số huyện còn lại đã tổ chức thu gom xử lý với số lượng rơm rạ: huyện Bình Giang xử lý được 255,0 tấn tại 3 xã; Thị xã Chí Linh: 450,0 tấn tại 3 xã; huyện Kinh Môn: 1.050,0 tấn tại 5 xã; huyện Kim Thành: 211,0 tấn tại 5 xã; huyện Thanh Miện: 500,0 tấn tại 3 xã; huyện Ninh Giang: 551,0 tấn tại 5 xã; huyện Tứ Kỳ: 891,0 tấn tại 4 xã; huyện Gia Lộc: 81,0 tấn tại 2 xã; huyện Nam Sách: 2.123,0 tấn tại 6 xã; Thành phố Hải Dương: 499,0 tấn tại 5 xã.
Kết quả bước đầu của vụ xuân đã góp phần đáng kể giảm thiểu ô nhiễm môi trường do khói đốt rơm, rạ và tạo ra một lượng phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp, nhưng vẫn còn rất khiêm tốn. Theo ước tính, lượng rơm, rạ sản sinh ra trong một vụ của toàn tỉnh khoảng 360.000 tấn, lượng dư thừa khoảng 180.000 tấn. Như vậy, vụ xuân vừa qua, lượng xử lý hơn 9.000 tấn chỉ đạt khoảng 5,1%.
5. Giới thiệu địa chỉ các đơn vị chuyển giao chế phẩm, hướng dẫn kỹ thuật và đơn vị chủ trì Kế hoạch khung xử lý rơm, rạ
- Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hải Dương, địa chỉ: 207 – Nguyễn Lương Bằng – Thành phố Hải Dương, số điện thoại: cơ quan: 03203.892437, 03203.892433.
- Công ty cổ phần công nghệ sinh học, địa chỉ: 814/2 đường Láng – Láng Hạ - Đống Đa – Hà Nội, số điện thoại: cơ quan: 04.37750333; Fax:04.37754346, di động: 0903441529, 0915010480.
- Trung tâm Ứng dụng TBKH tỉnh Hải Dương, địa chỉ: 207 – Nguyễn Lương Bằng – Thành phố Hải Dương, số điện thoại: cơ quan: 03203.893149, Fax:0320.3893149, di động: 0912465499, 0912731435.
Vũ Văn Tân