TẠP CHÍ KH&CN
Xem Tạp chí   
Thành viên



Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: : 8586035
Đang trực tuyến: 98 khách 
Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao khoa học, công nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệp Hải Dương
Xem kết quả: / 0
Bình thườngTuyệt vời 
Tạp chí số 4/2011 - Khoa học và Công nghệ
Đăng bởi: CN. Phạm Ninh Hải   
Thứ tư, 07 Tháng 9 2011 07:39
VN_THC_NGHIM_CA_VIN_CY_LNG_THC_V_CY_THC_PHM
Vườn thực nghiệm của Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm. Ảnh: Ninh Hải
Sản xuất nông nghiệp của Hải Dương trong những năm gần đây đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Đến năm 2010, tỷ trọng nông-lâm-thuỷ sản trong cơ cấu GDP giảm còn 23%. Song giá trị sản phẩm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp tăng từ 37 triệu đồng/ha năm 2005 lên 82,5 triệu đồng/ha năm 2010. Trong thành tựu chung đó, khoa học kỹ thuật chiếm một vị trí quan trọng. Tận dụng ưu thế vị trí nằm ở vùng tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc, Hải Dương đã đẩy mạnh hợp tác khoa học với nhiều cơ quan, đơn vị nghiên cứu khoa học về sản xuất nông nghiệp, trong đó nổi bật nhất là hoạt động hợp tác với Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm. Các đề tài, dự án khoa học của Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm thực hiện tại Hải Dương góp phần thúc đẩy sản xuất theo hướng chuyển đổi cơ cấu, thâm canh trong nông nghiệp, áp dụng kỹ thuật mới về giống,… tạo ra những chuyển biến tích cực trong việc nâng cao năng suất và sản lượng nông nghiệp, bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc.
Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm (gọi tắt là Viện) là đơn vị sự nghiệp khoa học, trực thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, sản xuất kinh doanh về lĩnh vực cây lương thực và cây thực phẩm, chủ yếu là cây lúa, cây đậu đỗ và cây có củ. Viện đồng thời thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng. Trong thời gian qua, tại Hải Dương, Viện đã phối hợp chặt chẽ với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ và các huyện trên địa bàn tỉnh để chuyển giao kỹ thuật cho các địa phương góp phần tăng năng suất cây trồng và nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.
Từ năm 2008-2010, Viện đã thực hiện triển khai 13 đề tài nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp của Hải Dương, ở cả 3 lĩnh vực: cây lúa, cây rau màu và cây ăn quả.
Trong lĩnh vực sản xuất lúa, Viện đã xây dựng mô hình trình diễn và chuyển giao kỹ thuật, trong đó đã phối hợp với Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ kỹ thuật Hải Dương xây dựng mô hình trình diễn các giống lúa: T10, PC6, P6đột biến, LT25, SH4, SH2…. Các giống lúa mới được Viện đưa vào sản xuất thử nghiệm tại Hải Dương có nhiều ưu điểm hơn hẳn các giống lúa lai Trung Quốc và nhiều loại giống địa phương về năng suất lúa, chất lượng gạo và khả năng chống chịu với những bất lợi của thời tiết. Trong đó có những mô hình sản xuất vừa bổ sung giống mới, vừa góp phần phổ biến kỹ thuật canh tác tiên tiến trong sản xuất cho bà con nông dân.
Với mục tiêu tạo cơ sở khoa học cho việc áp dụng, mở rộng vùng giống lúa chất lượng cao và canh tác lúa theo hướng tạo sản phẩm an toàn để nâng cao hiệu quả sản xuất lúa gạo ở Hải Dương, năm 2009-2010, Viện thực hiện đề tài “Xây dựng mô hình trình diễn giống lúa chất lượng cao T10 theo Việt GAP tại huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương”. Mô hình khẳng định những ưu điểm của giống lúa T10 như: thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất trung bình đạt 50-55 tạ/ha/vụ, thâm canh tốt có thể đạt 60-65 tạ/ha/vụ, chất lượng gạo ngon. Sản xuất lúa theo hướng Việt GAP áp dụng theo đúng quy trình về các yếu tố: lượng giống gieo, phương thức gieo, lượng phân bón, công thức bón phân, phương pháp bón phân và chăm sóc lúa khi gieo…cho sản phẩm an toàn, giảm thiểu ô nhiêm môi trường.
Đáp ứng nhu cầu của một số địa phương sử dụng giống lúa ngắn ngày lấy quỹ thời gian làm cây vụ đông sớm, Trung tâm Nghiên cứu-Phát triển lúa thuần của Viện cũng đã tiến hành nghiên cứu hoàn thiện quy trình và xây dựng mô hình trình diễn 2 giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn PC6, P6đb tại một số tiểu vùng sinh thái của tỉnh (2010-2011). Đề tài đã tiến hành thử nghiệm tính thích ứng của hai giống lúa với quy mô 9.000 m2 tại 3 địa điểm xã Tam Kỳ (huyện Kim Thành), xã Đồng Quang (huyện Gia Lộc), xã Minh Đức (huyện Tứ Kỳ). Kết quả thử nghiệm cho thấy: P6 đột biến là giống lúa cực ngắn ngày, thời gian sinh trưởng trong vụ mùa khoảng 75-80 ngày, vụ xuân khoảng 105-110 ngày. Năng suất 45-65 tạ/ha. Theo Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Gia Lộc: Hai giống lúa mới được đưa vào thử nghiệm trên địa bàn huyện đã đáp ứng nhu cầu về giống cho diện tích trồng màu (xuân muộn-đông sớm) với ưu điểm: ngắn ngày, đảm bảo kịp thời vụ mà vẫn đem lại năng suất ổn định, chất lượng gạo ngon.
Sản xuất cây rau màu:
Vụ xuân - hè năm 2008, Viện kết hợp với Sở Khoa học và Công nghệ xây dựng mô hình trình diễn giống bí xanh số 1 của Viện tại HTX Tráng Liệt, huyện Bình Giang nhằm giới thiệu giống bí xanh mới có năng suất cao, chất lượng tốt và qui trình thâm canh tiến tiến cho địa bàn tỉnh Hải Dương. Giống bí xanh số 1 phát triển tốt, tỷ lệ đậu quả cao, trung bình 500-700 quả/sào, mỗi sào bí xanh số 1 tại xã Tráng Liệt (Bình Giang) cho thu hoạch trung bình 47-50 tấn/ha, cho thu nhập 90-100 triệu đồng/ha/vụ. Trừ chi phí, nông dân thu lãi 60- 70 triệu đồng/ha. Sau 2 năm xây dựng mô hình trình diễn giống bí xanh số 1 tại các huyện Bình Giang, Tứ Kỳ, mô hình này đang được các huyện Cẩm Giàng, Thanh Miện, Tứ Kỳ tiếp tục quan tâm mở rộng diện tích.
Phát huy ưu thế của sản xuất cây vụ đông trên địa bàn tỉnh Hải Dương, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Cây có củ của Viện thực hiện đề tài “Xây dựng mô hình nhân giống và sản xuất khoai tây hàng hoá cho hiệu quả kinh tế cao đối với giống Sinora và Marabel trên địa bàn tỉnh Hải Dương”. Vụ đông năm 2009 và 2010, giống khoai tây Sinora và Marabel được trồng tại xã Đồng Lạc và xã Phú Điền của huyện Nam Sách với diện tích 20 ha, xã Hà Thanh, Minh Đức, Cộng Lạc, Quang Khải (huyện Tứ Kỳ) với tổng diện tích 50 ha. Kết quả thu hoạch cho thấy năng suất khoai tây Sinora và Marabel đạt kết quả cao nhất từ 22,6 đến 24,5 tấn/ha cho thu lãi thuần từ 33 đến 35 triệu đồng/ha. Kết quả thực hiện đề tài đã tạo ra tín hiệu lạc quan trong việc phục hồi diện tích khoai tây hàng hóa tại tỉnh ta trong thời gian tiếp theo.
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển đậu đỗ của Viện đã xây dựng mô hình và hoàn thiện các quy trình sản xuất cây lạc đạt năng suất cao tại thị xã Chí Linh. Qua một năm thực hiện, mô hình đã phổ biến các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất và canh tác một số giống lạc như L23, L26...  cho nông dân, nâng cao nâng suất và chất lượng của cây lạc trên đất Chí Linh.
Một trong những loại cây vụ đông cho hiệu quả kinh tế cao tại tỉnh ta là cây hành. Đề tài “Nghiên cứu, tổ chức sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ hành hàng hóa chất lượng cao theo hướng VietGap tại Hải Dương” do Trung tâm Nghiên cứu và phát triển hệ thống nông nghiệp của Viện thực hiện trong hai năm 2010-2011. Đề tài hướng tới mục tiêu xây dựng các tổ chức nông dân sản xuất hành theo hướng Vietgap nhằm tăng năng suất và ổn định chất lượng sản phẩm cũng như thu nhập cho các hộ nông dân tại huyện Nam Sách và huyện Kinh Môn. Năm 2010, Ban chủ nhiệm đề tài đã xây dựng được 2 nhóm hộ sản xuất hành theo hướng VietGAP tại xã Nam Trung (với 54 hộ) và xã Thăng Long (52 hộ). Hiệu quả bước đầu của đề tài được các hộ nông dân và lãnh đạo địa phương đánh giá cao.
Đối với cây ăn quả: Những năm gần đây, các cán bộ Bộ môn Rau Quả của Viện đã chọn tạo giống dưa Thanh lê có năng suất khá cao (25-30 tấn/ha), chất lượng quả ngon, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt. Đồng thời, Viện đã bước đầu nghiên cứu và đề xuất quy trình kỹ thuật mới cho dưa lê góp phần tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả trồng dưa lê. Năm 2010, Viện xây dựng mô hình sản xuất trình diễn giống dưa Thanh lê với quy mô 44 ha tại 7 xã thuộc 6 huyện trên địa bàn tỉnh đảm bảo năng suất cao (22-28 tấn/ha), chất lượng quả tốt, cho thu nhập từ 80-100 triệu đồng/ha. Qua việc xây dựng mô hình, đề tài đã bước đầu hoàn thiện và chuyển giao quy trình kỹ thuật thâm canh và sản xuất hạt giống dưa Thanh lê cho nông dân Hải Dương.
Năm 2009- 2010, Viện đã phổ biến và nhân rộng mô hình trồng thâm canh và nhân giống ổi trắng số 1. Kết quả cho thấy: Đây là giống ổi có chất lượng thương phẩm tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái tại Hải Dương, cho hiệu quả kinh tế cao (thu nhập 150-200 triệu đồng/ha/năm, lãi thuần 100-120 triệu đồng/ha) tại các địa phương trong tỉnh. Từ hiệu quả mô hình tại 4 huyện Kim Thành, huyện Thanh Hà, huyện Tứ Kỳ và huyện Ninh Giang, đến nay, Viện tiếp tục mở rộng diện tích trồng ổi trắng số 1 tới các địa phương Thanh Hà, Bình Giang, Ninh Giang, Kinh Môn, Nam Sách... Thành công của đề tài đã bổ sung một loại cây trồng có giá trị vào cơ cấu cây ăn quả của tỉnh Hải Dương thay thế một số loại cây trồng cho năng suất và hiệu quả kinh tế thấp.
Những thành tựu khoa học công nghệ nổi bật của Viện trong thời gian gần đây không chỉ dừng lại ở việc chọn tạo thành công và đưa vào sản xuất một số giống lúa lai và giống lúa thuần ngắn ngày cho vùng thâm canh; các giống lúa có chất lượng cao cho các vùng sản xuất lúa hàng hoá; các giống cây màu (lạc, đậu tương, khoai tây, khoai lang) phục vụ cho chuyển đổi cơ cấu cây trồng và các giống rau (cà chua, dưa chuột lai) phục vụ cho ăn tươi và chế biến xuất khẩu. Đưa giống mới vào thực tế sản xuất, cán bộ của Viện cũng đồng thời làm nhiệm vụ phổ biến những tiến bộ khoa học kỹ thuật (tưới nước tiết kiệm, che phủ nilon, quy trình sản xuất an toàn…) cho nông dân góp phần thay đổi tập quán canh tác, hướng tới nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Sản xuất nông nghiệp của Hải Dương ngày càng vững mạnh, đóng góp bình quân gần 26% giá trị sản xuất của tỉnh nói chung. Nhờ những ưu thế về điều kiện sản xuất, trong đó có vị trí địa lý gần gũi với những cơ quan, đơn vị nghiên cứu trong đó có Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm đã tạo điều kiện thuận lợi cho Hải Dương tiếp cận sớm nhất về khoa học công nghệ, trong đó có các giống cây trồng chất lượng cao. Và điểm mạnh trong nông nghiệp Hải Dương chính là việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Theo đánh giá của ông Phạm Đình Phục, Trưởng Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế, Viện cây lương thực và cây thực phẩm, Hải Dương là đơn vị hợp tác tốt nhất và đồng bộ nhất với Viện cây lương thực và cây thực phẩm trong các hoạt động nghiên cứu và chuyển giao của Viện tại khu vực đồng bằng sông Hồng. Kết quả hợp tác không chỉ thể hiện ở số lượng đề tài nghiên cứu và chuyển giao lớn, mà còn thể hiện ở kết quả hợp tác đồng bộ trên nhiều lĩnh vực, nhiều phương diện. Có được kết quả này là nhờ việc thực hiện chủ trương, đường lối hợp tác, thúc đấy ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ của các sở, ban ngành của tỉnh; bên cạnh đó là do nhận thức tiến bộ của một bộ phận nông dân Hải Dương, muốn áp dụng tiến bộ kỹ thuật để nâng cao năng suất và hiệu quả nhiều loại cây trồng.
Mặc dù còn nhiều khó khăn, đặc biệt là khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, nông nghiệp Hải Dương vẫn trên đà tăng trưởng mạnh, cả về trồng trọt và chăn nuôi. Việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện liên kết 4 nhà trong nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp chính là một giải pháp quan trọng để nông nghiệp Hải Dương tháo gỡ khó khăn trên đà sản xuất nông nghiệp hàng hóa.
Nguyễn Thị Ánh
Bài đăng trên Tạp chí KHCN&MT số 4/2011