TẠP CHÍ KH&CN
Xem Tạp chí   
Thành viên



Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: : 8866752
Đang trực tuyến: 97 khách 
Kỹ thuật thâm canh giống bí xanh số 1
Xem kết quả: / 6
Bình thườngTuyệt vời 
Tạp chí số 5/2010 - Khoa học và Công nghệ
Đăng bởi: CN. Phạm Ninh Hải   
Thứ năm, 18 Tháng 11 2010 14:33
1. Giới thiệu chung:
Giống bí xanh số 1 đã được công nhận đặc cách giống Quốc gia năm 2008, là giống thích hợp trồng cả 2 vụ xuân hè và thu đông, có thời gian sinh trưởng từ 110 - 120 ngày; chiều dài thân chính 3,0 - 3,5 m, phân cành trung bình, lá xanh đậm, chẻ thuỳ trung bình, quả dài trung bình 45 - 65 cm, vỏ xanh đậm, khi chín phủ lớp phấn trắng, cùi dày, đặc ruột, ít hạt; chống chịu bệnh héo xanh, phấn trắng khá; có năng suất trung bình 45 - 55 tấn/ha ở vụ xuân hè và 40 - 45 tấn/ha ở vụ thu đông.
bi_xanh2
Giống bí xanh số 1 trồng ở huyện Bình Giang cho năng suất cao
2. Yêu cầu ngoại cảnh
Nhiệt độ thích hợp cho cây bí xanh phát triển từ 24 - 28oC, giai đoạn ra hoa và đậu quả yêu cầu nhiệt độ cao từ 25 - 30oC. Bí xanh thích hợp ánh sáng ngày ngắn, cường độ vừa phải, độ ẩm đất thích hợp từ 65 - 80%. Cây bí xanh số 1 có thể trồng tốt trên đất thịt nặng, thịt nhẹ hoặc đất phù sa, độ pH đất 6,5 - 8,0. Chính vì vậy ở Hải Dương cây bí xanh số 1 có thể trồng tốt cả 2 vụ xuân hè, vụ thu đông và có thể trồng trên nhiều vùng, nhiều loại đất khác nhau.
3. Quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc
* Thời vụ gieo

- Vụ thu đông: Gieo hạt ngày 20 / 8 đến ngày 15 / 9.
- Vụ xuân hè: Gieo hạt 20 / 1 đến 20 / 2.
* Sản xuất cây con
- Gieo hạt vào khay hoặc làm bầu (7cm x 10cm). Giá thể làm bầu theo tỷ lệ sau: 50% đất bột + 50% xơ dừa hoặc 40% đất bột + 45% xơ dừa +15% mùn mục, sau đó để bầu hoặc khay lên luống cao, bằng phẳng.
- Lượng hạt giống cần cho 1 ha là 1,2 kg (30g/sào), mỗi lỗ gieo 1 hạt. Sau khi gieo xong phủ một lớp đất bột mỏng lên hạt, dùng rơm, rạ phủ lên mặt để giữ ẩm và tránh mưa to hoặc tưới mạnh làm hạt bị xô hoặc trôi hạt.
- Trong vụ xuân hè giai đoạn vườn ươm cây giống thường gặp lạnh nên làm vòm che phủ nilon để chống rét cho cây. Thường xuyên kiểm tra vườn ươm, khi thấy hạt nẩy mầm rỡ dần rơm, rạ ra để cây không bị vống. Cây con có 1- 2 lá thật, cao 8 – 10 cm, không bị sâu bệnh được chuyển ra trồng ở ruộng sản xuất.
* Chọn đất, chuẩn bị đất và trồng cây
3.3.1. Chọn đất và chuẩn bị đất trồng
Nên chọn đất thịt nhẹ, thoát nước tốt, pH= 6,5 - 8,0, không trồng bí xanh trên đất cây vụ trước là cây họ bầu bí (dưa chuột, dưa hấu...) tốt nhất là luân canh với lúa nước, đất đảm bảo sạch sâu bệnh. Đất trồng được cày bừa kỹ, sạch cỏ dại (xử lý bằng thuốc ViBam 5H liều lượng 25 kg/ha + 400 kg/ha vôi bột nếu pH < 5).
Vụ xuân trồng có thể làm giàn, lên luống rộng 1,8-2,0 m (cả rãnh luống), luống cao 25 – 30 cm
Vụ thu đông trồng có thể làm giàn hoặc không cần làm giàn. Nếu làm giàn lên luống như vụ xuân, không làm giàn để cây bò trên mặt luống có phủ rơm dạ thì lên luống rộng 3,6 - 3,8 m, cao 25 - 30 cm, thoát nước tốt.
3.3.2. Mật độ và cách trồng
- Vụ thu đông trồng không làm giàn, mật độ trồng 1,9 vạn cây/ha với khoảng cách: hàng cách hàng 2,8 m và cây cách cây 30 cm, luống rộng 3,6-3,8 m.
- Vụ xuân hè mật độ trồng 2,5 vạn cây/ha với khoảng cách: hàng cách hàng 1,4m và cây cách cây 40 cm, luống rộng 2m
* Phân bón và cách bón phân
* Liều lượng bón:
Lượng phân dùng cho 1 ha.
- Vụ xuân hè: 20 - 25 tấn phân chuồng (800 - 900 kg/sào Bắc Bộ), 180N+ 120P2O5+ 140K2O (14kg urê, 20kg supe lân, 10 kg kalisulphat/sào Bắc Bộ)
- Vụ thu đông: 20 - 25 tấn phân chuồng (800 - 900 kg/sào Bắc Bộ), 160N + 120P2O5+ 140K2O (12kg urê, 20kg supe lân, 10 kg kalisulphat/sào Bắc Bộ).
Đất chua hoặc không được bón vôi thường xuyên thì cần bón 25 – 30 kg vôi bột cho 1 sào Bắc Bộ và bón vôi bột khi cày bừa đất.
* Cách bón:
- Bón lót toàn bộ phân chuồng và phân lân + 1/4 đạm + 1/4 kali
- Bón thúc:
+ Lần 1: Khi cây ngả ngọn bò hoặc khi chuẩn bị cắm giàn. Bón 1/4 đạm + 1/4 kali kết hợp với vun xới.
+ Lần 2. Sau khi đậu quả rộ (sau đợt 1: 20 - 25 ngày). Hoà phân với nước tưới, lượng phân 1/4 đạm + 1/4 kali tưới vào giữ hai hốc ở phía trong luống.
Số lượng phân còn lại pha loãng với nồng độ 5% tưới bổ sung nếu cây sinh trưởng phát triển kém.
Lưu ý: Có thể thay thế phân chuồng bằng NPK 16-16-8.
* Tưới nước
Ở giai đoạn đầu cần tưới nhẹ đảm bảo đủ ẩm cho cây mau bén rễ hồi xanh, phát triển nhanh. Thời kỳ cây ra hoa, đậu quả và phát triển quả cần nhiều nước, nên phải tưới đủ ẩm cho cây phát triển bình thường. Nếu thiếu nước cây phát triển kém, quả không lớn, sâu bệnh gây hại làm ảnh hưởng tới năng suất. Nếu mưa ngập cần tháo rút nước ngay vì bí xanh kém chịu ngập úng.
* Cắm giàn hoặc phủ rơm
Ở vụ xuân, do thời tiết mưa ẩm đầu vụ và mưa lớn cuối vụ vì vậy bí xanh trồng ở vụ này cần cắm giàn. Giàn có thể cắm chữ A hoặc làm vòm tuỳ theo điều kiện vật tư có sẵn. Cắn chữ A yêu cầu cây dóc dài >2,5 m, giàn kiểu vòm yêu cây vòm cao >1,5 m
Trồng bí xanh thả bò ở vụ thu đông, sau khi vun xới đợt 2 tiến hành phủ, dải rơm, rạ đều trên mặt luống
* Tỉa cành, định quả

Sau khi vun xới đợt 2 (sau trồng 20 - 25 ngày) tiến hành tỉa bỏ 1 - 2 nhánh gốc và để 2 - 3 nhánh sau đó. Dùng dây mềm buộc cây lên giàn hoặc định đều trên mặt luống đã phủ rơm rạ.
Nếu thu bí non thì mỗi nhánh để 2 - 3 quả, nếu thu bí già thì mỗi nhánh chỉ nên để 1 quả.
Khi quả đậu 3 - 5 ngày chú ý điều chỉnh, định cho ở vị trí thuận lợi nhất cho quả phát triển.
* Phòng trừ sâu hại
- Sâu xám: Thường hại cây non mới trồng, vào ban đêm chui lên cắn ngang cây, ban ngày chui xuống đất. Tại chỗ cây bị hại, dùng que đào bắt sâu, hoặc dùng Vibam 5 (10)H rắc quanh gốc. Cày bừa kỹ, phơi ải đất, luân canh với cây trồng nước để ngăn chặn sâu xám phát triển.
- Sâu xanh, rệp, bọ phấn trắng: Dùng các loại thuốc Sherpa 25EC, Oncol 20EC, Cymerin 20EC phun với nồng độ 0,15%.
Bệnh sương mai ở vụ xuân dùng Kasuzan, Ridomil 72wp, nồng độ 0,2%, bệnh phấn trắng dùng Bavistyl, Bayferan, nồng độ 0,15 - 0,2%.
* Thu hoạch
Quả bí đạt 50 - 60 ngày tuổi là thu hoạch được, bí non có thể thu ở giai đoạn 25 - 35 ngày tuổi (sau khi đậu quả). Quả thu vào buổi sáng, thu nhẹ nhàng tránh bi xây xát. Quả già thu về có thể xếp thành hàng, lớp, bảo quản nơi thoáng mát. Bí xanh số 1 có thể bảo quản trên 30 ngày không ảnh hưởng đến chất lượng.
Ks. Vũ Văn Tân
Bài đăng trên tạp chí KHCN&MT 5/2010

 

Cập nhật lần cuối vào Thứ ba, 30 Tháng 11 2010 07:51