TẠP CHÍ KH&CN
Xem Tạp chí   
Thành viên



Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: : 8624385
Đang trực tuyến: 103 khách và 2 thành viên 
  • anhnguyen
  • linhlt
Một số Website liên kết
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Thực trạng và nhu cầu ứng dụng Công nghệ thông tin
Xem kết quả: / 2
Bình thườngTuyệt vời 
Tạp chí số 2/2009 - Khoa học quản lý
Đăng bởi: CN. Nguyễn Thị Thuận   
Thứ tư, 13 Tháng 5 2009 01:06

THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU HỖ TRỢ ỨNG DỤNG CNTT CỦA CÁC DOANH NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG PHỤC VỤ HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN

Để tiếp tục triển khai Đề án 191/2005 QĐ-TTG, ngày 29/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin (CNTT) để tăng hiệu quả sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập Quốc tế, tỉnh Hải Dương cần phải có hạ tầng thông tin truyền thông đủ đáp ứng được các yêu cầu trao đổi thông tin của các doanh nghiệp. Theo số liệu của Sở Thông tin và Truyền thông hiện nay trên địa bàn tỉnh có 3 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cố định; 6 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông di động; 3 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truy nhập Internet. Đến hết 31/12/2007, toàn tỉnh có 295 trạm thu phát sóng di động, hơn 1000km cáp quang, hàng trăm nghìn km cáp đồng trục; 76 tổng đài, 73 trạm DSLAM; 100% số thôn, xã trong tỉnh đã được cung cấp dịch vụ viễn thông cố định; hơn 90% số xã được phủ sóng thông tin di động. Đến hết tháng 5/2008 toàn tỉnh có 253.266 điện thoại cố định, bao gồm cố định hữu tuyến, cố định vô tuyến; 58.247 thuê bao di động trả sau, mật độ đạt 17,718 máy/100 dân (bao gồm cả cố định và di động trả sau); hơn 650.000 thuê bao di động trả trước; 16.044 thuê bao Internet ADSL, trong đó có gần 600 điểm đại lý Internet công cộng vớI quy mô hơn 10.000 máy tính được liên kết mạng. Về hiện trạng ứng dụng CNTT tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh như sau:

- 100% doanh nghiệp đã có máy vi tính phục vụ cho công tác văn phòng. Nhiều doanh nghiệp lớn của nhà nước, của tỉnh; các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài như: Công ty xi măng Hoàng Thạch, Công ty Nhiệt điện Phả Lại, Công ty Ford Việt Nam... đã xây dựng mạng LAN với quy mô hàng chục, hàng trăm máy tính để phục vụ điều hành sản xuất tại doanh nghiệp. Các ngân hàng thương mại đã xây dựng mạng WAN với quy mô hàng chục mạng LAN, thành phần bao gồm hàng chục máy chủ, hàng trăm máy trạm...
- Có 100% doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài, công ty trách nhiệm hữu hạn đã kết nối Internet để trao đổi thông tin điện tử. Trong số doanh nghiệp đã kết nối Internet, hình thức truy cập Internet bằng ADSL chiếm 87,5%; đường truyền riêng chiếm 3,33% và hình thức truy cập bằng quay số chiếm 9,17%. Tần xuất truy nhập Internet của đa số doanh nghiệp có kết nối tương đối cao. Có tới 90,42% doanh nghiệp thực hiện truy cập hàng ngày; số còn lại thực hiện truy cập hàng tuần, trong đó chủ yếu là các doanh nghiệp tư nhân và một số công ty TNHH có quy mô vốn nhỏ.Tuy nhiên, có gần 100% doanh nghiệp chưa thực hiện việc liên lạc với các cơ quan nhà nước thông qua Internet, cho dù một số trang tin điện tử của các cơ quan nhà nước đã và đang triển khai thực hiện chức năng trao đổi trực tuyến với doanh nghiệp.
Có trên 80 doanh nghiệp đã xây dựng Website, trong đó trên 25 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng cao nhất là 31,25%; doanh nghiệp nhà nước:15%; công ty TNHH:14,60%; công ty cổ phần: 26,80% và doanh nghiệp tư nhân:12,35%. Tất cả các doanh nghiệp đã xây dựng Website đều cho biết xây dựng Website trước hết là nhằm giới thiệu về doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp. Chưa có doanh nghiệp nào thực hiện giao dịch thương mại, cho phép đặt hàng trên website của mình.Trong đó, nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu được giới thiệu trên website là sản phẩm thuộc nhóm may mặc xuất khẩu (20 đơn vị), thiết bị điện tử viễn thông (25 đơn vị), cơ khí máy móc (10 đơn vị), thủ công mỹ nghệ (10 đơn vị), thực phẩm công nghệ (bánh đậu xanh, bánh kẹo các loại-10 đơn vị), dịch vụ kho bãi 01; du lịch, vận tải 02 đơn vị...
- Một số doanh nghiệp đã mua sắm phần mềm phục vụ cho lưu trữ số liệu, thiết kế mẫu mã sản phẩm, kiểm tra chất lượng KCS; các doanh nghiệp có vốn nước ngoài, hoặc gia công theo đơn đặt hàng của nước ngoài, nhất là doanh nghiệp may mặc...đã ứng dụng CNTT trong thiết kế mẫu mã. Đa số các doanh nghiệp đã có phần mềm quản lý nhân sự; gần 100% các doanh nghiệp có phần mềm quản lý công tác tài chính, kế toán, theo dõi chi trả lương, quản lý tài sản...
- Tỷ lệ nhân viên văn phòng tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh sử dụng thành thạo máy vi tính còn khá khiêm tốn. Số nhân viên văn phòng thường xuyên sử dụng máy vi tính trong nghiệp vụ chiếm 65,45% trong tổng số nhân viên văn phòng, trong đó mức độ sử dụng thành thạo chỉ chiếm 15,28%. Chỉ có gần 300 doanh nghiệp có cán bộ chuyên trách về CNTT chiếm tỷ trọng 17% tổng số doanh nghiệp; trong đó tập trung chủ yếu ở khối các doanh nghiệp có vốn nước ngoài và các công ty cổ phần có quy mô vốn lớn, như Công ty xi măng Hoàng Thạch, Lắp máy 69/3, Công ty Nhiệt điện Phả Lại, các ngân hàng thương mại.... Thực tế này có thể được lý giải bởi nguyên nhân chủ yếu là do lực lượng lao động giỏi và thông thạo về lĩnh vực CNTT trên địa bàn tỉnh hiện nay chưa nhiều. Trong khi mức độ đòi hỏi đầu tư về thời gian cho công việc và khả năng thanh toán tiền lương của doanh nghiệp trong tỉnh còn hạn chế nên không giữ được những cán bộ CNTT chuyên trách tại mỗi đơn vị.
Đánh giá chung về tình hình ứng dụng CNTT tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh:
Nhận thức về CNTT đã từng bước được nâng lên; lãnh đạo các doanh nghiệp không còn thờ ơ với việc ứng dụng CNTT; không còn hiện tượng khoán trắng việc ứng dụng CNTT cho một số cán bộ kỹ thuật.
Đầu tư xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin còn hạn chế, còn mang tính bình quân theo các hạng mục chi của doanh nghiệp; chưa có đột phá. Ở doanh nghiệp có doanh thu, có lợi nhuận cao thì chi phí cho mua sắm, xây dựng hạ tầng CNTT lớn, ở doanh nghiệp làm ăn chưa có lãi thì mức độ đầu tư cho CNTT còn hạn chế.
Việc ứng dụng các phần mềm vào quản lý, điều hành còn chưa được quan tâm. Đa số các doanh nghiệp chỉ sử dụng các phần mềm đơn lẻ, giá cả vừa phải, khả năng ứng dụng chưa cao.
Một số kiến nghị về hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh ứng dụng CNTT
Từ thực trạng ứng dụng CNTT tại một số doanh nghiệp được điều tra trên địa bàn tỉnh, để hỗ trợ các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đẩy mạnh ứng dụng CNTT để tăng hiệu quả sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế; góp phần đào tạo nguồn nhân lực và phát triển thị trường công nghiệp CNTT, viễn thông; phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên địa bàn tỉnh, chúng tôi xin đề xuất một số nội dung như sau:
Một là: Tổ chức hội thảo chuyên đề nhằm tuyên truyền, nâng cao nhận thức về công nghệ thông tin cho doanh nghiệp; tạo môi trường thảo luận, tiếp xúc giữa các cơ quan Trung ương, các cơ quan, ban ngành chức năng địa phương, các nhà cung cấp giải pháp dịch vụ sản phẩm CNTT với doanh nghiệp. Đồng thời thông qua hội thảo tìm ra các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong tỉnh ứng dụng CNTT hiệu quả trong hoạt động sản xuất, kinh doanh phục vụ phát triển và hội nhập.
Hai là: Xây dựng chuyên mục "Doanh nghiệp và ứng dụng CNTT" phát trên Đài truyền hình tỉnh nhằm tuyên truyền nâng cao nhận thức ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp; giới thiệu, cung cấp, chia sẽ những kinh nghiệm ứng dụng CNTT của các doanh nghiệp trong tỉnh; tư vấn, giải đáp các vấn đề liên quan đến ứng dụng CNTT cho doanh nghiệp.
Ba là: Xây dựng Website "Diễn đàn Doanh nghiệp Hải Dương" để tạo kênh thông tin để doanh nghiệp trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm trong việc ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp; tạo môi trường hỏi - đáp, tư vấn của giữa doanh nghiệp, nhà cung cấp giải pháp CNTT và cơ quan nhà nước có liên quan.
Bốn là: Xây dựng mô hình doanh nghiệp mẫu về ứng dụng CNTT với 3 mô hình: vừa - nhỏ - hộ kinh doanh, thông qua mô hình này, các doanh nghiệp có thể đến học hỏi kinh nghiệm để áp dụng cho doanh nghiệp mình. Lấy mô hình này làm điểm nhấn để tuyên truyền tính hiệu quả của việc ứng dụng CNTT.
Năm là: Tập huấn, đào tạo phát triển nguồn nhân lực CNTT nhằm nâng cao nhận thức của chủ doanh nghiệp về tầm quan trọng ứng dụng CNTT trong xu thế hội nhập kinh tế Quốc tế. Xác định rõ xu hướng phát triển và những cơ hội của doanh nghiệp khi ứng dụng CNTT nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập.
Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, các doanh nghiệp phải đối mặt với sự cạnh tranh không những với doanh nghiệp trong nước mà còn với doanh nghiệp nước ngoài ngay tại thị trường nội địa. Do vậy, từng doanh nghiệp cần phải có nhận thức tốt về những lợi ích của CNTT và thương mại điện tử; phải nhận thấy CNTT, thương mại điện tử là một phương thức giúp doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh để tồn tại và phát triển.

Nguyễn Quang Hảo
Phó Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông

Cập nhật lần cuối vào Thứ tư, 13 Tháng 5 2009 16:20